UBND đã gửi giấy mời 2 lần cho gia đình tôi lên hòa giải, giải quyết vụ việc. Nhưng bố mẹ tôi không đi vì cho rằng gia đình mình không lấn chiếm đất, không vi phạm pháp luật. Và hôm qua gia đình tôi nhận được thông báo bằng văn bản do UBND gửi phải dỡ bỏ hàng rào cho hộ kế bên xây.

Cho tôi hỏi: gia đình tôi làm vậy có sai không? Và UBND quyết định vậy có đúng không?

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: H.L

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật đất đai của Công ty Luật Minh Khuê.

Tư vấn giải quyết vấn đề lấn chiếm đất đai ? 

Luật sư tư vấn luật đất đai gọi số: 1900 6162

Trả lời:

Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi đến công ty. Vấn đề của bạn công ty xin được giải quyết như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Luật đất đai số 45/2013/QH13 của Quốc hội

Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai

Luật khiếu nại 2011 

2. Nội dung phân tích:

Theo quy định của pháp luật hiện hành, tranh chấp đất đai được giải quyết qua các thủ tục sau: Thủ tục hòa giải, thủ tục hành chính và thủ tục tố tụng. 

Thủ tục hòa giải:

Khoản 1,2,3,4 Điều 202 Luật Đất đai (LĐĐ) quy định:

"1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp."

 Trường hợp không hòa giải được tại UBND cấp xã, các bên tranh chấp có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai hoặc khởi kiện tài Tòa án nhân dân có thẩm quyền. (Khoản 2 Điều 203)

Thủ tục hành chính:

Theo Điều 203 LĐĐ, các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục hành chính gồm có: Chủ tịch ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (UBND cấp huyện), Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (UBND cấp tỉnh) và Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TN-MT). Cụ thể, các cơ quan trên có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất (QSDĐ) mà đương sự không có giấy chứng nhận QSDĐ hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 LĐĐ. 

Thủ tục tố tụng:

Trường hợp đương sự có giấy chứng nhận QSDĐ hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 100 LĐĐ và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì vụ việc do Tòa án nhân dân giải quyết. 

Các giấy tờ về đất đai được quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều 100 LĐĐ bao gồm: 

- Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15-10-1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam DCCH, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước CHXHCN Việt Nam. 

- Giấy chứng nhận QSDĐ tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính. 

- Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng, cho QSDĐ hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất. 

- Giấy tờ chuyển nhượng QSDĐ, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15-10-1993, nay được UBND cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15-10-1993. 

- Giấy tờ về thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật. 

- Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất. 

- Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 thang 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ. 

- Giấy tờ về việc chuyển QSDĐ có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày LĐĐ có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển QSDĐ theo quy định của pháp luật, nay được UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp. 

- Bản án hoặc quyết định của TAND, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành. .

Trong trường hợp này gia đình kế bên đã kiện gia đình bạn liên quan đến tranh chấp đất đai. Theo đó, sau khi nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai, UBND xã phải thực hiện việc thẩm tra, xác minh tìm hiểu nguyên nhân phát sinh tranh chấp, thu thập giấy tờ, tài liệu có liên quan do các bên cung cấp về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất và cuối cùng thành lập Hội đồng hòa giải theo Điều 88 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP. Theo như vụ việc trên, UBND xã đã tiến hành tổ chức hòa giải hai lần và cả hai lần gia đình bạn đều không tham gia. Như vậy, hòa giải không thành. Việc hòa giải không thành này phải được lập biên bản. Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản hòa giải không thành và hướng dẫn các bên tranh chấp gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tiếp theo.

Thông báo bằng văn bản do UBND gửi phải dỡ bỏ hàng rào cho hộ kế bên xây là sai vì:

- Tranh chấp chưa được giải quyết, cả hai lần tổ chức hòa giải đều không thành công

- Không có căn cứ chứng minh đó là đất của hộ gia đình kế bên, mặt khác cán bộ địa chính đã xuống đo đạc lại diện tích đất của gia đình). Do đó gia đình bạn có thể khiếu nại về quyết định của UBND (Luật khiếu nại 2011)

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. 

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email  Tư vấn pháp luật đất đai qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900 6162

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê