1. Tư vấn giải quyết vụ việc tranh chấp đất đai ?

Em xin chào luật sư, Em xin giới thiệu: Em là huyền, hiện đang công tác tại phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn. Em được phân công giải phụ trách mảng giải quyết tranh chấp đất đai Anh ạ!

Cụ thể vụ việc như sau:

Tranh chấp về quyề sử dụng đất vường trong ngõ giỡ gia đình bà Lày với gia đình bà Yến từ năm 2002 (bà Lày viết đơn) nhưng thực chất phát sinh tranh chấp giữa hai gia đình từ năm 1992 khi tan HTX rồi anh a! Năm 2002 bà Lày làm đơn gửi UBND xã Đình Lập, UBND xã đã tiến hành hòa giải nhưng không thành sau đó hồ sơ được chuyển lên CT UBND huyện giải quyết. UBND huyện giải quyết bằng một biên bản giải quyết tranh chấp đất đai, chủ tịch đã kết luận tại biên bản là khẳng định đất đó đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất cho gia đình bà Lày nên để lại cho bà Lày sử dụng, còn bà Yến vì có công phục hóa nên được hưởng 2/3 giá trị và bà Lày phải trả tiền công phục hóa cho gia đình bà Yến. Giao Phòng TNMT đo đạc và tính tiền công phục hóa theo văn bản hiện hành. Nhưng vì phòng TNMT giải quyết không dứt điểm nên hai bên vẫn xảy ra tranh chấp, người trồng, người chặt và đơn thư gửi liên tục.

Năm 2013 Phòng TNMT lại được chủ tịch giao tham mưu giải quyết theo đúng kết luận của Chủ tịch UBND huyện theo biên bản giải quyết năm 2002. Nhưng khi tiến hành kiểm tra, xác minh thì thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận cho bên nào nên không thể thực hiện theo KL của Chủ tịch được với lại nếu 1 trong hai bên đã có giấy chứng nhận thì thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân chứ không phải chủ tịch UBND huyện. Biết là kết luận của Chủ tịch không đúng nhưng cũng không thể hủy biên bản đó được vì chủ tịch đó đã chuyển sang làm bí thư (vấn đề nhạy cảm). Do vậy e quyết định lựa chọn phương pháp hòa giải, cố gắng phân tích, giải thích cho các bên hiểu và tự thương lượng với nhau và coi biên bản kia chỉ để tham khảo thôi chứ không phải là căn cứ để giải quyết. Sau khi đi thẩm tra, xác minh e đã tổ chức đối thoại với hai bên và họ đã hiểu ra va muốn hòa giải theo hướng mà e đã gợi ý (vì nó rất hợp tình, hợp lý). Biết là hòa giải sẽ thành công nên e đã chuyển hồ sơ về xã và giúp xã tổ chức hòa giải lại và kết quả đã thành. Vì kết quả hòa giải có thay đổi về ranh giới thửa đất nên xã đã báo báo và gửi biên bản hòa giải về phòng TNMT, trên cơ sở đó Phòng đã trình UBND huyện ban hành Quyết định công nhận thay đổi ranh giới thửa đất và công nhận kết quả hòa giải giưa hai bên gia đình. Sau khi ban hành quyết định và gửi cho các bên tranh chấp được 1 tuần thì chúng e tổ chức xác định ranh giới, mốc giới thửa đất và bàn giao đất tại thực địa cho hai bên gia đình. Nhưng hôm đến thực địa để xác định thì gia đình bà Yến lại thay đổi ý kiến (do anh con trai đi làm xa về đã không đồng ý) và bà Yến (mẹ) cũng nghe theo con là không đồng ý nữa và nói sẽ đem Quyết định xuống trả cho Chủ tịch. Gia đình bà Yến bỏ về không hợp tác nữa nên chúng tôi không thực hiện được.

E rất lúng túng không biết giải quyết vụ việc này như thế nào nữa, e đã rất cố gắng và mất rất nhiều công sức mới hòa giải được vụ này mà cuối cùng lại không thành công.

Nếu chúng e tiếp tục gặp anh Lương con ba Yến để giải thích, thuyết phục mà không được thì UBND huyện có được phép cưỡng chế thực hiện Quyết định đó không a?

Xin Luật sư hãy tư vấn giúp e!

E xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: huyền nguyễn

Tổng đài luật sư trực tuyến gọi: 1900.1940.

Luật sư tư vấn luật Đất đai qua điện thoại gọi số: 1900.1940

Trả lời:

Căn cứ Điều 139 Luật đất đai năm 2003 (Luật đất đai mới năm 2013):

“Điều 139. Giải quyết tố cáo về đất đai

1. Cá nhân có quyền tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai.

2. Việc giải quyết tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.”

Căn cứ Điều 2 Luật tố cáo năm 2011:

“1. Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.

2. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ là việc công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ.

3. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực là việc công dân báo cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào đối với việc chấp hành quy định pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực.”

Như vậy theo như bạn trình bày thì việc chủ tịch UBND huyện giải quyết vụ việc trên là không đúng thẩm quyền thì các bên đó là gia đình bà Lày và gia đình bà Yến hoàn toàn có quyền tố cáo hành vi của trên do vi phạm pháp luật trong quản lý nhà nước về đất đai tại cơ quan UBND cấp huyện vì vậy mà UBND cấp tỉnh không thể cưỡng chế thực hiện Quyết định trên. Cụ thể:

Căn cứ Điều 31 Luật tố cáo năm 2011:

“Điều 31. Thẩm quyền giải quyết tố cáo

1. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết. Người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý được giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Tố cáo có nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của nhiều cơ quan thì các cơ quan có trách nhiệm phối hợp để xác định thẩm quyền giải quyết hoặc báo cáo cơ quan quản lý nhà nước cấp trên quyết định giao cho một cơ quan chủ trì giải quyết; tố cáo có nội dung thuộc thẩm quyền giải quyết của nhiều cơ quan thì cơ quan thụ lý đầu tiên có thẩm quyền giải quyết.

3. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm do cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.”

>> Tham khảo ngay dịch vụ: Tư vấn mua bán, chuyển nhượng đất đai;

2. Tranh chấp đất đai khi chỉ có biên lai nộp tiền ?

Kính chào các Quý luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê. Tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Tôi mua 1 mảnh đất vào tháng 1/1994 của Ủy Ban xã, biên lai nộp tiền mua đất do tôi đứng tên và nộp tiền vào tháng 1/1994.

Đến tháng 8/1994 xã bàn giao biên bản đo đất cho người A (Khi xã thực hiện đo đất không có tôi). Hiện nay tôi chỉ có biên lai nộp tiền, không có biên bản đo đất như trên. Người A có biên bản đo đất nhưng lại không có biên lai nộp tiền mua đất như nêu ở trên. Từ năm 2012 xảy ra việc tranh chấp đất giữa tôi và người A. Xin hỏi trong trường hợp này quyền lợi thuộc về ai ?.

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê.

Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Kính thư !

Người gửi: Lê Anh

>> Tư vấn tranh chấp đất đai trực tuyến, gọi: 1900.1940

Trả lời:

Căn cứ khoản 16 Luật Đất đai của Quốc hội, số 45/2013/QH13:

“ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.”

Như vậy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất là giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất của bạn với diện tích đất trên. Vì vậy nếu bạn có biên lai mua đất thì để xác định quyền lợi thuộc về ai thì cần phải xem xét giữa hai bên thì ai đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất:

TH1: Nếu có một trong các giấy tờ quy định tại điều 100 Luật đất đai năm 2013 và Điều 18 Nghị định 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai:

Căn cứ khoản 1 Điều 100 Luật đất đai năm 2013:

“1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;

g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ.”

Căn cứ Điều 18 Nghị định 43/2014/NĐ-CP:

“Điều 18. Giấy tờ khác về quyền sử dụng đất quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 100 của Luật Đất đai

Các giấy tờ khác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 100 của Luật Đất đai có tên người sử dụng đất, bao gồm:

“1. Sổ mục kê đất, sổ kiến điền lập trước ngày 18 tháng 12 năm 1980.

2. Một trong các giấy tờ được lập trong quá trình thực hiện đăng ký ruộng đất theo Chỉ thị số 299-TTg ngày 10 tháng 11 năm 1980 của Thủ tướng Chính phủ về công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký thống kê ruộng đất trong cả nước do cơ quan nhà nước đang quản lý, bao gồm:

a) Biên bản xét duyệt của Hội đồng đăng ký ruộng đất cấp xã xác định người đang sử dụng đất là hợp pháp;

b) Bản tổng hợp các trường hợp sử dụng đất hợp pháp do Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Hội đồng đăng ký ruộng đất cấp xã hoặc cơ quan quản lý đất đai cấp huyện, cấp tỉnh lập;

c) Đơn xin đăng ký quyền sử dụng ruộng đất đối với trường hợp không có giấy tờ quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản này.

3. Dự án hoặc danh sách hoặc văn bản về việc di dân đi xây dựng khu kinh tế mới, di dân tái định cư được Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

4. Giấy tờ của nông trường, lâm trường quốc doanh về việc giao đất cho người lao động trong nông trường, lâm trường để làm nhà ở (nếu có).

5. Giấy tờ có nội dung về quyền sở hữu nhà ở, công trình; về việc xây dựng, sửa chữa nhà ở, công trình được Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan quản lý nhà nước về nhà ở, xây dựng chứng nhận hoặc cho phép.

6. Giấy tờ tạm giao đất của Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh; Đơn đề nghị được sử dụng đất được Ủy ban nhân dân cấp xã, hợp tác xã nông nghiệp phê duyệt, chấp thuận trước ngày 01 tháng 7 năm 1980 hoặc được Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh phê duyệt, chấp thuận.

7. Giấy tờ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc giao đất cho cơ quan, tổ chức để bố trí đất cho cán bộ, công nhân viên tự làm nhà ở hoặc xây dựng nhà ở để phân (cấp) cho cán bộ, công nhân viên bằng vốn không thuộc ngân sách nhà nước hoặc do cán bộ, công nhân viên tự đóng góp xây dựng. Trường hợp xây dựng nhà ở bằng vốn ngân sách nhà nước thì phải bàn giao quỹ nhà ở đó cho cơ quan quản lý nhà ở của địa phương để quản lý, kinh doanh theo quy định của pháp luật.

8. Bản sao giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai và các giấy tờ quy định tại các Khoản 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều này có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành cấp huyện, cấp tỉnh đối với trường hợp bản gốc giấy tờ này đã bị thất lạc và cơ quan nhà nước không còn lưu giữ hồ sơ quản lý việc cấp loại giấy tờ đó.”

Như vậy nếu bạn có giấy tờ nêu trên thì bạn nộp hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xác định quyền sử dụng đất của mình với diện tích đất nêu trên.

TH2: Nếu không có giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 100 Luật đất đai năm 2013 và Điều 18 Nghị định 43/2014/NĐ-CP:

Căn cứ khoản 2 Điều 101 Luật đất đai năm 2013:

“2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.”

Căn cứ Điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP:

“Điều 21. Căn cứ xác định việc sử dụng đất ổn định

1. Sử dụng đất ổn định là việc sử dụng đất liên tục vào một mục đích chính nhất định kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đó đến thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc đến thời điểm quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận).

2. Thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được xác định căn cứ vào thời gian và nội dung có liên quan đến mục đích sử dụng đất ghi trên một trong các giấy tờ sau đây:

a) Biên lai nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất;

b) Biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc sử dụng đất, biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc xây dựng công trình gắn liền với đất;

c) Quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực thi hành, quyết định thi hành bản án của cơ quan Thi hành án đã được thi hành về tài sản gắn liền với đất;

d) Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực thi hành; biên bản hòa giải tranh chấp đất đai có chữ ký của các bên và xác nhận của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất;

đ) Quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có liên quan đến việc sử dụng đất;

e) Giấy tờ về đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú dài hạn tại nhà ở gắn với đất ở; Giấy chứng minh nhân dân hoặc Giấy khai sinh, giấy tờ nộp tiền điện, nước và các khoản nộp khác có ghi địa chỉ nhà ở tại thửa đất đăng ký;

g) Giấy tờ về việc giao, phân, cấp nhà hoặc đất của cơ quan, tổ chức được Nhà nước giao quản lý, sử dụng đất;

h) Giấy tờ về mua bán nhà, tài sản khác gắn liền với đất hoặc giấy tờ về mua bán đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên liên quan;

i) Bản đồ, sổ mục kê, tài liệu điều tra, đo đạc về đất đai qua các thời kỳ;

k) Bản kê khai đăng ký nhà, đất có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã tại thời điểm kê khai đăng ký.”

Như vậy nếu bạn không có giấy tờ theo quy định của pháp luật thì nếu bạn sử dụng đất ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì bạn cũng có thể được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

>> Tham khảo ngay: Khiếu nại quyết định thu hồi đất và tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai ?

3. Tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai có nguồn gốc sử dụng trước năm 1985?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Gia đình tôi khai phá sử dụng đất trước năm 1975, sau đó góp đất vào tập đoàn 9 để làm ăn nhưng không hiệu quả tập đoàn với hình thức khoán vốn nhưng làm ăn thô lỗ giải thể tập đoàn từ năm 1985 nhưng chế định sở hữu về đất không rõ ràng.

Chính quyền lại không công nhận nên chúng tôi rất bức xức nhưng không hiểu nơi nào giải đáp trả ời cho đúng pháp luật. Xin cho hỏi: cán bộ nhà đất quận 7 cho rằng đất có nguồn gốc tập đoàn sản xuất quản lý từ trước đó do dân khai phá đưa vào tập đoàn sau giải thể tập đoàn thì dân tự quản lý sử dụng vẫn là đất công nên không cho dân đăng ký. Điều này có trái luật định không? Đươc biết theo hiến pháp 1980 và 1992 vẫn công nhận đất tư nhân và đất công. Người dân phải làm thế nào để bảo vệ quyền lợi của mình trước pháp luật ?

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê

Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Kính thư

Người gửi: NC Phục

Tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai?

Tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai - Ảnh minh họa

Trả lời:

Căn cứ Điều 11 Luật Đất đai của Quốc hội, số 45/2013/QH13:

"Điều 11. Căn cứ để xác định loại đất

Việc xác định loại đất theo một trong các căn cứ sau đây:

1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đã được cấp trước ngày 10 tháng 12 năm 2009; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

2. Giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật này đối với trường hợp chưa được cấp Giấy chứng nhận quy định tại khoản 1 Điều này;

3. Quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp chưa được cấp Giấy chứng nhận quy định tại khoản 1 Điều này;

4. Đối với trường hợp không có giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này thì việc xác định loại đất thực hiện theo quy định của Chính phủ."

Căn cứ Điều 3 Nghị định 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai:

"Điều 3: Xác định loại đất

Việc xác định loại đất đối với trường hợp sử dụng đất không có giấy tờ quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều 11 của Luật Đất đai được thực hiện theo quy định sau đây:

1. Trường hợp đang sử dụng đất ổn định mà không phải do lấn, chiếm, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép thì loại đất được xác định theo hiện trạng đang sử dụng.

2. Trường hợp sử dụng đất do lấn, chiếm, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép thì căn cứ vào nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng đất để xác định loại đất.

3. Trường hợp thửa đất đang sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau (không phải là đất ở có vườn, ao trong cùng thửa đất) thì việc xác định loại đất được thực hiện theo quy định sau đây:

a) Trường hợp xác định được ranh giới sử dụng giữa các mục đích sử dụng thì tách thửa đất theo từng mục đích và xác định mục đích theo hiện trạng sử dụng của từng thửa đất đó;

b) Trường hợp không xác định được ranh giới sử dụng giữa các mục đích thì mục đích sử dụng đất chính được xác định theo loại đất hiện trạng có mức giá cao nhất trong bảng giá do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) quy định; trường hợp sử dụng đất sau khi có quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất để xác định mục đích chính.

4. Trường hợp đất có nhà chung cư có mục đích hỗn hợp được xây dựng trước ngày 01 tháng 7 năm 2014, trong đó có một phần diện tích sàn nhà chung cư được sử dụng làm văn phòng, cơ sở thương mại, dịch vụ thì mục đích sử dụng chính của phần diện tích đất xây dựng nhà chung cư được xác định là đất ở.

5. Cơ quan xác định loại đất quy định tại các Khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp huyện) đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Trường hợp thu hồi đất thì cơ quan có thẩm quyền xác định loại đất là cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất theo quy định của pháp luật về đất đai."

Căn cứ khoản 1, 2, 3 Điều 100 Luật đất đai năm 2013:

"Điều 100. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;

g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và đất đó không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

3. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, văn bản công nhận kết quả hòa giải thành, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật."

Như vậy theo quy định của pháp luật hiện hành thì việc xác định loại đất sẽ căn cứ theo quy định:

TH1: Nếu có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

TH2: Nếu không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì:

Nếu có giấy tờ theo khoản 2, 3 Điều 3 Luật đất đai năm 2013.

Nếu không có giấy tờ về đất thì sẽ căn cứ theo Điều 3 Nghị định 43/2014/NĐ-CP và cơ quan có thẩm quyền xác định trong trường hợp này là UBND cấp huyện với trường hợp là cá nhân.

Do đó thì đất của bạn đang sử dụng mà không có giấy tờ về đất đai thì được xác định theo hiện trạng sử dụng. Như vậy nếu UBND cấp có thẩm quyền đưa ra quyết định về việc xác định loại đất trên mà không đứng quy định của pháp luật thì bạn có thể khiếu nại.Cụ thể:

Căn cứ Điều 204 Luật Khiếu nại của Quốc hội, số 02/2011/QH13:

"Điều 204. Giải quyết khiếu nại, khiếu kiện về đất đai

1. Người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai.

2. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính."

Căn cứ khoản 1 Điều 7 Luật khiếu nại năm 2011:

"Điều 7. Trình tự khiếu nại

1. Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính."

Căn cứ Điều 8 Luật khiếu nại năm 2011:

"Điều 8. Hình thức khiếu nại

1. Việc khiếu nại được thực hiện bằng đơn khiếu nại hoặc khiếu nại trực tiếp.

2. Trường hợp khiếu nại được thực hiện bằng đơn thì trong đơn khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại; tên, địa chỉ của người khiếu nại; tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại và yêu cầu giải quyết của người khiếu nại. Đơn khiếu nại phải do người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ.

3. Trường hợp người khiếu nại đến khiếu nại trực tiếp thì người tiếp nhận khiếu nại hướng dẫn người khiếu nại viết đơn khiếu nại hoặc người tiếp nhận ghi lại việc khiếu nại bằng văn bản và yêu cầu người khiếu nại ký hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản, trong đó ghi rõ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều này."

Căn cứ Điều 9 Luật khiếu nại năm 2011:

"Điều 9. Thời hiệu khiếu nại

Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu vì ốm đau, thiên tai, địch họa, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại."

Căn cứ Điều 27 và Điều 28 Luật đất đai năm 2011:

"Điều 27. Thụ lý giải quyết khiếu nại

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại thuộc thẩm quyền mà không thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Điều 11 của Luật này, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu phải thụ lý giải quyết; thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chuyển khiếu nại đến và cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp biết, trường hợp không thụ lý giải quyết thì phải nêu rõ lý do.

Điều 28. Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu

"Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý.

Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý."

Như vậy bạn có thể làm đơn khiếu nại khi cho rằng quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền với nội dung đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Luật khiếu nại năm 2011.Trân trọng./.

>> Tham khảo ngay: Tranh chấp đất đai phải kiện ở đâu và Kiện như thế nào ?

4. Tư vấn thủ tục giám đốc thẩm vụ án tranh chấp đất đai?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có vấn đề liền quan đến đất đai như sau: Ông bà tôi mất năm 1985,có diện tích đất là 1206m2, nhưng không có để lại di chúc. Trong thời giàn này ba tôi đã ở và sinh sống tren mảnh đất này, cưới mẹ tôi năm 1985, đến năm 1997 thì được cấp quyền sử dụng đất với diện tích là 2016m2.

Đến ngày 16-01-2008 ba tôi có họp gia đình bên nội và co làm biên bản chia đất,nhưng không có mặt và sự đồng ý của mẹ tôi ,sau đó do tranh chấp hai bên nên ba tôi không chấp nhận chia phần đất trong biên bản họp gia đình đó,và biên bản đó cũng chưa có sự xác nhân của cơ quan nhà nước và mẹ tôi. Hai bên đã làm đơn ra tòa, lần đầu tiên xử thì tòa đã tuyên bố nhà tôi thua kiện và phải chia đất. Gia đình tôi kháng cáo lên phúc thẩm và tòa đã hủy bỏ bản án sơ thẩm và yêu cầu xử sơ thẩm lại và đến lần phúc thẩm thứ hai cũng yêu cầu đưa về xử sơ thẩm nhưng lần phúc thẩm cuồi cùng gần đây đã tuyên bố gia đình tôi thua kiện và phải chia đất. Gia đình tôi đã gửi đơn ra Tòa án nhân dân tối cáo yêu cầu xử lại vụ việc trên nhưng đã được trả lời đơn như sau:

+ Do mẹ tôi không có quyền trong phần đất đó nên ý kiến của mẹ tôi không được chấp thuận;

+ Ý kiến thứ hai của đơn trả lời là do phần đất để lại không có di chúc nên lúc ba tôi đi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không thông báo cho các đương sự khác là không hợp lệ . Tuy nhiên theo tôi được biết bà tôi mất năm 1985, đến năm 1997 ba tôi mới đi làm giấy chủ quyền, thì có phải thời hạn chia thừa kế 10 năm đã hết
Như vậy, qua những vấn đề trên gia đình tôi có thể yêu cầu giám đốc thẩm không,và nếu được thì thủ tục thế nào hay có phương án nào khác để giải quyết không?

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê

Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Kính thư

Người gửi: Nguyễn Quang Minh

>> Luật sư tư vấn luật Đất đai qua điện thoại gọi số: 1900.1940

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến

Trả lời:

Chào bạn, Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi đến công ty. Về vấn đề của bạn công ty xin giải đáp như sau:

Thứ nhất, Về thời hiệu khởi kiện về thừa kế:

Theo quy định tại Điều 645 Bộ luật dân sự năm 2005 thì thời hiệu khởi kiện về thừa kế là mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Tuy nhiên, Thời điểm mở thừa kế là thởi điểm người để lại di sản chết. Trong trường hợp này thời điểm mở thừa kế được xác định là năm 1985. Theo đó, Thời hiệu khởi kiện về thừa kế được quy định tại Nghị quyết số 02/1990/HĐTP ngày 19 tháng 10 năm 1990 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp lệnh thừa kế như sau:

" Đối với những việc thừa kế đã mở trước ngày 10-9-1990 thì thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày 10-9-1990, do đó:

- Sau ngày 10-9-2000, đương sự không có quyền khởi kiện để yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ thừa kế của người khác;"

Bên cạnh đó Đối với các trường hợp đã quá các thời hạn quy định tại điều này mà đương sự mới khởi kiện vì có trở ngại khách quan như đương sự bị mất năng lực hành vi, do ốm đau, tai nạn... thì Toà án vẫn thụ lý giải quyết theo thủ tục chung. Trong trường hợp đương sự đã không thực hiện quyền khởi kiện trong thời hạn quy định mà không có lý do chính đáng thì Toà án trả lại đơn khởi kiện cho đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 36 của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự."

Tuy nhiên, theo quy định tại tiểu mục 2.4 Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình

" 2.4. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế

a) Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

b) Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản."

Như vậy, trong trường hợp này có thể Tòa án đã có những căn cứ để không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Bạn cần xác minh rõ vấn đề này.

Thứ hai, Về thủ tục giám đốc thẩm:

Quyền yêu cầu Tòa án thực hiện thủ tục giám đốc thẩm được quy định tại điểm p, khoản 2, Điều 58 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 như sau:

" Điều 58. Quyền, nghĩa vụ của đương sự...

2. Khi tham gia tố tụng, đương sự có các quyền, nghĩa vụ sau đây:...

p) Phát hiện và thông báo cho người có thẩm quyền kháng nghị căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật; "

Khoản 2 Điều 17 Bộ luật tố tụng dân sự quy định như sau:

" Đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm."

Điều 282. Tính chất của giám đốc thẩm

Giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án.

Điều 283. Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

Bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:

1. Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án;

2. Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng;

3. Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật."

" Điều 285. Người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

1. Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án các cấp, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

2. Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp huyện."

Như vậy, khi xét thấy có những căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bạn có thể thông báo cho những người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục này để giám đốc thẩm hoặc tái thẩm bản án đã có hiệu lực tại phiên tòa phúc thẩm.

>> Tham khảo ngay: Tư vấn về vấn đề tranh chấp đất đai và quyền thừa kế ?

5. Tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai đẫn đến xô xát?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Chuyện là như này, nhà tôi và nhà hàng xóm đang xảy ra tranh chấp đất đai, từ đó dẫn đến xích mích. Và tôi và em trai tôi có xông sang nhà hàng xóm đánh 2 anh em nhà đó, từng người xông một ( Nhưng xông sang với mục đích là kéo bố Em từ bên đó về nhưng ko kiềm chế được nên dẫn đến đánh nhau).

Anh em nhà hàng xóm 1 người bị gẫy mũi ( theo tôi hỏi là thương tích 6%) và 1 người bị lệch xương vai 4 độ. Ngay sau khi vụ việc xảy ra gia đình tôi đã đưa gia đình hàng xóm 5 triệu để chữa chạy. Cho tôi hỏi liệu như thế tôi và em trai tôi có phải chịu trách nhiệm hình sự ko ạ ? và vết thương của 2 anh kia có cộng dồn ko ạ ?

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê

Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Kính thư

Người gửi: Chung Le

Trả lời:

Căn cứ Khoản 1 Điều 109 Bộ luật hình sự năm 1999 ( Sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 2009):

“Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân”

Như vậy căn cứ vào quy định trên thì việc bạn và em trai bạn có hành vi đánh hàng xóm và tỷ lệ thương tật đều dưới 11% thì căn cứ vào quy định của pháp luật thì bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu phương tiện, công cụ bạn dùng để đánh hành xóm thuộc một trong các trường hợp nêu tại khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009).

>> Tham khảo ngay: Giải quyết tranh chấp đất đai ở đâu ? Thủ tục khởi kiện ra tòa thực hiện như thế nào ?

6. Tư vấn khởi kiện giải quyết tranh chấp đất đai ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Ông nội tôi lấy 2 người vợ và có 11 người con và có một người con nuôi không hợp pháp (chỉ nhận miệng). Bên cạnh đó ông có 2 người em. E gái đi lấy chồng xa. Em trai lấy vợ và ở rể. Toàn bộ mảnh đất của các cụ do ông nội tôi đứng tên sổ đỏ. Bà nội tôi là vợ cả sinh được 3 người con trai và 3 người con gái.

Bà vợ hai sinh được 1 người con trai và 4 người con gái. Bà nội tôi là vợ cả sống cùng ông tôi trên 1 mảnh đất. Còn bà hai thì được chia đất giãn dân sống ở một mảnh đất khác. Các con gái của bà nội tôi đều đã đi lấy chồng từ hơn rất lâu. Trên mảnh đất chỉ có 3 hộ gia đình sinh sống là hộ khẩu của ông nội tôi (sống cùng bà nội và chú bị bệnh tâm thần), hộ khẩu bố tôi (sống cùng vợ và 2 anh e tôi), hộ khẩu của cô út (lấy chồng xa được ông chia cho đất làm nhà). Ông nội tôi đã mất năm 2003 nhưng chưa kịp làm sổ đỏ cho các con sống trên mảnh đất cùng ông tôi chỉ chia ra cho các con sống. Phần về một người con trai nữa của bà nội tôi là bác trưởng. Bác đi thoát li từ nhỏ hoạt động trong lĩnh vực công an và được nhà nước cấp nhà. Tháng 10/2013 bác có về quê xây 1 cái nhà được gọi là nhà thờ tổ trên mảnh đất mà ông nội tôi đã sống trước kia.

Phía trước của nhà thờ là 1 cái sân rộng khoảng 100m2. Toàn bộ mảnh đất có diện tích là 627 m2. Ông nội chia cho nhà tôi 200 m2 và đã xây nhà và bờ cõi khi ông còn sống. cô út 70m2. Chú tôi bị bệnh nên từ trước đên nay vẫn sống cùng bà nội tôi. Tất cả phần đất còn lại (trừ phần đất của bố tôi và cô út) được mặc định là đất của bác trưởng. Không ai trong số các con của ông tôi có ý định tranh chấp. Nay bác tôi lại muốn lấy 2m đất nhà tôi kéo thẳng và theo chiều ngang để bác tôi làm cổng cho mảnh đất phía sau của nhà thờ (2m kéo dài này là con đường đất cũ có từ thời các cụ nay ông nội đã cho nhà tôi nhưng không có giấy tờ). Nhưng gia đình tôi không cho phép. Bác tôi nói sẽ đưa ra pháp luật. Bố tôi là con trai thứ 2 đã sinh sống trên mảnh đất này từ nhỏ, lập ra đình từ năm 1990 và đóng tiền thuế đất từ năm 1992. Bố tôi mất năm 2010 nhưng mẹ tôi vẫn thay bố tôi đóng tiền thuế cho cả mảnh đất 627m2 đến nay.

Vậy nếu có tranh chấp xảy ra thì mảnh đất 627 m2 sẽ được chia như thế nào. Nó có được chia đều cho 11 người con ruột của ông tôi, 1 người con nuôi, 2 người vợ và 2 người e của ông tôi không? Rất mong nhận được sự tư vấn chi tiết cảu các luật gia!

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê

Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Kính thư.

Người gửi: Nguyễn Thu Hằng

Tư vấn tranh chấp đất đai ?

Luật sư tư vấn luật Đất đai trực tuyến, gọi số: 1900.1940

Trả lời:

Theo như thông tin bạn cung cấp thì phải xác định thời điểm ông bạn đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

Căn cứ Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình của Quốc hội, số 52/2014/QH13:

"Điều 33: Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

TH1: Nếu ông bạn đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đất trước khi kết hôn, được thừa kế riêng và giữa ông bạn và hai người vợ không có thỏa thuận xác nhận đây là tài sản chung:

Như vậy toàn bộ diện tích 627 m2 sẽ thuộc quyền sở hữu của ông bạn và được xác định là di sản thừa kế mà ông bạn để lại:

Nếu ông bạn để lại di chúc trước khi chết thì phần di sản này được chia theo nội dung trong di chúc.

Nếu ông bạn không để lại di chúc thì di sản thừa kế trên dược chia theo pháp luật

Căn cứ khoản 1 Điều 633 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội; (Bộ luật dân sự năm 2015):

« Điều 633. Thời điểm, địa điểm mở thừa kế

Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trong trường hợp Toà án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật này »

Căn cứ Điều 635 Bộ luật dân sự năm 2005:

“Điều 635. Người thừa kế

Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.”

Căn cứ Điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005 :

“Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;”

Như vậy theo quy định của pháp luật thì diện tích đất trên được chia cho hai người vợ của ông bạn, 11 người con của ông bạn nếu tất cả những người trên còn sống vào thời điểm ông bạn chết.

TH2: Nếu ông bạn đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong thời kỳ hôn nhân:

Căn cứ khoản 2 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:

“2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.”

Như vậy, diện tích đất trên được xác định là tài sản chung của ông bạn và hai người vợ theo nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó diện tích sau khi xác định chi theo quy định tại khoản 2 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 là di sản thừa kế của ông bạn và được chia như trường hợp 1.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê

---------------------------------------------

THAM KHẢO MỘT SỐ DỊCH VỤ TƯ VẤN LUẬT:

1. Tư vấn tách thửa đất đai;

2. Tư vấn pháp luật đất đai;

3. Tư vấn cấp lại sổ đỏ bị mất;

4. Tư vấn mua bán, chuyển nhượng đất đai;

5. Tư vấn đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

6. Tư vấn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do trúng đấu giá;