Năm 2012 cha chồng tôi chết, hai em chồng tôi khai di sản thừa kế sổ hồng được mang tên hai em chồng đồng thừa kế, biết được nên cháu chồng tôi đứng nguyên đơn đòi phần được thừa kế thế vị, ba con tôi cũng được tòa mời do có quyền lợi liên quan (thừa kế thế vị) Chúng tôi cũng xin được trích lục hồ sơ khai thừa kế tại phòng công chứng A và gửi đơn tại phòng tài nguyên: Ủy Ban Nhân Dân quận B xin được thanh tra do em chồng tôi khai man mà có được sổ hồng. Kết luận của ủy ban sau khi thanh tra là hủy sổ hồng, song các cô em chồng tôi không chấp hành lệnh triệu tập và chờ tòa án quận B tuyên.

Nay án này vẫn dậm chân tại chỗ không xử do nhiều lần hòa giải bất thành, vậy xin hỏi luật sự đến bao giờ chúng tôi sẽ được khiếu nại?

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: H.P

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật đất đai của Công ty Luật Minh Khuê.

Tư vấn khiếu nại giải quyết tranh chấp đất đai thừa kế a? 

Luật sư tư vấn luật đất đai gọi số: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, rất hân hạnh được trả lời câu hỏi của bạn.

1. Căn cứ pháp lý.

Luật Khiếu nại năm 2011.

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011.

2. Nội dung trả lời.

Khoản 1 Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011 quy định về hòa giải như sau: "1. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Toà án tiến hành hoà giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hoà giải hoặc không tiến hành hoà giải được quy định tại Điều 181 và Điều 182 của Bộ luật này".

Như vậy, hòa giải trong thời hạn chuẩn bị xét xử là bắt buộc hay nói cách khác, Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải cho các đương sự. Tuy nhiên, BLTTDS chỉ quy định về việc hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử là bắt buộc mà không quy định Tòa án sẽ tiến hành hòa giải bao nhiêu lần. Do đó, Tòa án sẽ căn cứ vào tính chất của vụ án để xem xét và tiến hành hòa giải. Mặc dù vậy, BLTTDS cũng quy định cứng về thời hạn chuẩn bị xét xử đối với các vụ án dân sự như sau:

"1. Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án được quy định như sau:
a) Đối với các vụ án quy định tại Điều 25 và Điều 27 của Bộ luật này, thời hạn là bốn tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án;
Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Toà án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không quá hai tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a và một tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này".

Vụ án của bạn là vụ án tranh chấp về thừa kế quy định tại điểm 5 Điều 25 BLTTDS, nên có thời hạn chuẩn bị xét xử tối đa là 4 tháng, nếu phức tạp có thể gia hạn 1 lần nhưn g không quá 02 tháng. Như vậy, thời hạn tối đa của giai đoạn chuẩn bị xét xử là 06 tháng (đã tính thời hạn gia hạn). Do đó, Tòa án chỉ có thể tiến hành hòa giải trong thời gian này.

Về quyền khiếu nại:

Khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 quy định: "Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình".

Vậy đối tượng của khiếu nại là hành vi hành chính và quyết định hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước.

Điều 9 Luật Khiếu nại 2011 cũng quy định về thời hiệu khiếu nại như sau:

"Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu vì ốm đau, thiên tai, địch họa, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại".

Như vậy, thời hiệu khiếu nại đối với hành vi hành chính và quyết định hành chính là 90 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính. Trường hợp của bạn, Tòa án chậm trễ giải quyết vụ án, tiến hành hòa giải nhiều lần không thành nhưng cũng không ra các quyết định liên quan đến vụ án, nên bạn hoàn toàn có thể khiếu nại hành vi của Tòa án trong thời gian Tòa án chậm trễ giải quyết vụ án.

Khoản 1 Điều 7 Luật Khiếu nại năm 2011 quy định về trình tự khiếu nại như sau:

"1. Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính".

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi, rất mong có thể giải đáp được thắc mắc của bạn.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê