1. Khi chuyển quyền sở hữu ngôi nhà này cho chị C, chị C đã có chồng. Hỏi ngôi nhà có phải là tài sản chung giữa hai vợ chồng chị C hay không? Nếu 2 vợ chồng chị C ly hôn, người chồng có được hưởng quyền lợi từ ngôi nhà này không?
2. Nếu sau này gia đình chị A có tranh chấp xảy ra buộc phải chia tài sản là ngôi nhà trên, chị A có được hưởng phần quyền lợi của mình hay không? Chị A phải làm thế nào?

>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài điện thoại: 1900.1940
 

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc tới văn phòng chúng tôi, tôi hướng dẫn bạn cách giải quyết như sau:

Căn cứ pháp lý:

- Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;

- Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số điều của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. 

- Bộ luật dân sự năm 2005.

Bạn thân mến, thắc mắc của bạn có hai vấn đề lớn cần giải quyết như sau:

Thứ nhất: Về vấn đề sở hữu ngôi nhà:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung thì được xác định là tài sản chung của vợ chồng.  Mặt khác, tại khoản 1 Điều 32 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có nêu rõ  tài sản được thừa kế riêng , được tặng cho riêng trong thời kì hôn nhân  thì được xác định là tài sản riêng của vợ chồng( trừ trường hợp vợ hoặc chồng có sự thỏa thuận đồng ý nhập vào khối tài sản chung).

Theo  thông tin bạn cung cấp thì chị C được mẹ chuyển quyền sỡ hữu ngôi nhà trong thời kì hôn nhân . Do đó, nếu chị C không có thỏa thuận với chồng là nhập ngôi nhà đó vào tài sản chung thì ngôi nhà này vẫn thuộc tài sản riêng của chị C. Và chị C ly hôn trong trường hợp này thì chồng chị C không được hưởng quyền lợi từ ngôi nhà.

Nếu chị C thỏa thuận với chồng là nhập ngôi nhà  này vào khối tài sản chung thì khi ly hôn, chồng chị C vẫn được chia tài sản theo nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng được quy định tại Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.

Thứ hai: vấn đề chia tài sản khi xảy ra tranh chấp:

Bố chị A mất năm 1989 và không để lại di chúc. Mẹ chị C đã thực hiện việc chuyển quyền sỡ hữu ngôi nhà sang cho chị C – đây là ý nguyện của mẹ chị C và đã được sự đồng ý của ba người con. Tuy nhiên, ý nguyện của mẹ chị C không phải là nội dung thể hiện của bản di chúc để lại. Trường hợp của chị C là trường hợp tặng cho bất động sản được quy định tại Điều 467 BLDS năm 2005. Do vậy, để chắc chắn ngôi nhà này thuộc quyền sỡ hữu của chị C thì giao dịch tặng cho ngôi nhà giữa mẹ chị C và chị C phải được thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký quyền sỡ hữu.

Nếu tới thời điểm sau này  có tranh chấp xảy ra mà chị C vẫn chưa có công chứng, chứng thực hoặc đăng kí quyền sỡ hữu về ngôi nhà này thì ngôi nhà được chia theo quy định của pháp luật về phân chia tài sản thừa kế theo pháp luật. Theo quy định tại khoản 2 Điều 685 BLDS năm 2005 thì  “những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thoả thuận về việc định giá hiện vật và thoả thuận về người nhận hiện vật; nếu không thoả thuận được thì hiện vật được bán để chia”. Theo đó, đối với trường hợp của gia đình là ngôi nhà thì khó có thể phân chia bằng hiện vật nên các con của chị A có thể thỏa thuận với nhau để bán ngôi nhà và các con của chị A nhận tiền tương đương phần thừa kế của mỗi người.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT

------------------------------------------------------

THAM KHẢO DỊCH VỤ TƯ VẤN LUẬT LIÊN QUAN:

1. Tư vấn soạn thảo hợp đồng;

2. Dịch vụ trước bạ sang tên nhà đất;

3. Tư vấn thừa kế quyền sử dụng đất;

4. Dịch vụ công chứng sang tên sổ đỏ;

5. Dịch vụ công chứng uy tín, chuyên nghiệp;

6. Dịch vụ soạn thảo và công chứng hợp đồng;