Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: V.Q.T

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật đất đai của Công ty luật Minh Khuê,

Tư vấn thủ tục thành lập

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900 6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Công ty Luật Minh Khuê. Với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Cơ sở pháp lý:

Luật đất đai năm 2013

Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật đất đai

Nội dung phân tích:

Khoản 6 điều 19 nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định : “Người sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng đã có thông báo hoặc quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.

Như vậy cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở đây là cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc thông báo hoặc ra quyết định thu hồi đất đối với cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư. Căn cứ vào điều 66 luật đất đai năm 2013 thì Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền ra quyết định thu hồi đất đối với cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư.

Căn cứ vào khoản 1 điều 69 Luật đất đai thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền ra quyết định thu hồi đất ban hành thông báo thu hồi đất. Do đó Ủy ban nhân dân cấp huyện sẽ ban hành thông báo thu hồi đất trong trường hợp này.

Như vậy cơ quan có thẩm quyền mà khoản 6 điều 19 nghị định 43/2014/NĐ-CP nhắc tới là Ủy ban nhân dân cấp huyện - thẩm quyền trong việc ra quyết định thu hồi đất và ban hành thông báo thu hồi đất đối với cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn dịch vụ tư vấn của Công ty chúng tôi. Nếu còn thắc mắc bạn vui lòng liên hệ qua địa chỉ email: luatsu@luatminhkhue.vn hoặc tổng đài 1900 6162 để được tư vấn.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật dất đai