cha tôi khởi kiện ra tòa, kết quả tòa xử buộc con bà B rỡ quán trả lại đất cho cha tôi, trong quyết định của Tòa cũng có nêu nguồn gốc phần đất bà B đang ở là mượn của cha tôi, tuy nhiên do nội dung đơn khởi kiện không yêu cầu đòi lại phần đất đã cho mượn nên tòa không đề cập đến, do đó gia đình bà B vẫn tiếp tục sinh sống trên phần đất mượn này. Năm 2010, cha tôi chết, tất cả phần đất của cha tôi được chuyển cho mẹ tôi đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (trong đó có cả phần đất cho mượn, năm 2014 bà B chết, con gái bà B tiếp tục ở trên phần đất này (nhà trên đất là nhà lá, cột kê). Vậy luật sư cho tôi hỏi với trường hợp nêu trên, tôi có đòi lại được phần đất này không? Nếu được (hoặc không) thì căn cứ nào để xử lý? Trường hợp khởi kiện tại tòa thì mức án được tính như thế nào? (đất trên là đất cây lâu năm, diện tích 250m2). Trường hợp nếu thắng kiện thì tôi có phải trả chi phí di dời nhà cho con bà B không, nếu có thì chi phí này được tính như thế nào? Ngoài ra gia đình con bà B thuộc diện nghèo và không có đất khác để ở, nếu bị xử di dời nhà thì nhà nước có chánh sách nào hổ trợ nơi ở khác cho con bà B không? Mong luật sư giải đáp giúp tôi. 

Xin cảm ơn. 

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật đất đai của công ty luật Minh Khuê.

Tư vấn quyền sử dụng đất ?

Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến gọi: 1900 6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Trong trường hợp mà bạn đưa ra, tôi sẽ tư vấn cho bạn như sau:

Căn cứ pháp lý:

- Luật đất đai 2013

Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/UBTVQH12 

1/ Với trường hợp nêu trên, tôi có đòi lại được phần đất này không, nếu được (hoặc không) thì căn cứ nào để xử lý ?

Tính đến thời điểm hiện tại, mẹ bạn đứng đã đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (trong đó có cả phần đất cho mượn). Như vậy có thể thấy phần đất cho mượn này vẫn thuộc quyền sử dụng của gia đình bạn và bạn hoàn toàn có quyền kiện đòi lại mảnh đất cho mượn.

Tuy nhiên, Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở (Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp).

Nếu các bên không tự thỏa thuận được hoặc hòa giải tại cơ sở không thành thì có thể giải quyết như sau: Vì mảnh đất này đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên tranh chấp này sẽ do Tòa án nhân dân giải quyết theo quy định tại Khoản 1 Điều 203 Luật đất đai 2013.

2/ Trường hợp khởi kiện tại tòa thì mức án được tính như thế nào? (đất trên là đất cây lâu năm, diện tích 250m2)?

Theo quy định tại Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/UBTVQH12 – danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án thì mức án phí sơ thẩm đối với các vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch sẽ được tính như sau:

 

Giá trị tài sản có tranh chấp

Mức án phí

a) từ 4.000.000 đồng trở xuống

200.000 đồng

b) Từ trên 4.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng

5% giá trị tài sản có tranh chấp

c) Từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng

20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng

d) Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng

36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng

đ) Từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng

72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng

e) Từ trên 4.000.000.000 đồng

112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng.

 

Như vậy, mức án phí mà bạn phải đóng tại Tòa án phụ thuộc vào giá đất trồng cây lâu năm tại thời điểm định giá ở địa phương.

3/ Trường hợp nếu thắng kiện thì tôi có phải trả chi phí di dời nhà cho con bà B không, nếu có thì chi phí này được tính như thế nào?

Theo quy định của Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/UBTVQH12 của Ủy ban thường vụ quốc hội năm 2009 thì đương sự chỉ phải nộp các loại phí trong vụ án dân sự gồm: Án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án dân sự có giá ngạch; Án phí dân sự phúc thẩm (nếu có). Như vậy, anh (chị) sẽ không phải trả thêm khoản chi phí nào khác ngoài các loại phí mà pháp luật quy định.

4/ Gia đình con bà B thuộc diện nghèo và không có đất khác để ở, nếu bị xử di dời nhà thì nhà nước có chính sách nào hổ trợ nơi ở khác cho con bà B không?

Gia đình con bà B có thể được hưởng chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở nếu gia đình con bà B có đủ các điều kiện sau:

+ Là hộ nghèo (theo chuẩn nghèo quy định tại Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08 tháng 7 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2010), đang cư trú tại địa phương, có trong danh sách hộ nghèo do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý tại thời điểm Quyết định này có hiệu lực thi hành;

+ Hộ chưa có nhà ở hoặc đã có nhà ở nhưng nhà ở quá tạm bợ, hư hỏng, dột nát, có nguy cơ sập đổ và không có khả năng tự cải thiện nhà ở;

+ Hộ không thuộc diện đối tượng được hỗ trợ nhà ở theo quy định tại Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20 tháng 7 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn và theo các chính sách hỗ trợ nhà ở khác.

(Quyết định về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở số 167/2008/QĐ-TTg)

Trân trọng!

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ.