Tài sản anh tôi để lại bao gồm: - 02 mảnh đất (đã có sổ đỏ - mua trước khi lấy chị ta - 04 mảnh đất mua giấy tờ viết tay (chưa làm sổ đỏ) + sổ tiết kiệm, vàng (tương đương 100 triệu đồng) và một ngôi nhà đang ở (chưa là sổ đỏ)-> tài sản sau hôn nhân. * Trước thời gia anh tôi mất, anh tôi có gọi điện cho anh em trong gia đình nói về lý do ly hôn và nói nguyện vọng toàn bộ tài sản của anh tôi sau ly hôn sẽ làm thủ tục cho 02 con gái (01 cháu 11 tuổi, 01 cháu 04 tuổi). * Sau khi anh tôi mất, gia đình tôi nén nỗi đau, có họp lại và ý kiến về nguyện vọng của anh tôi (chia tài sản để giữ cho các cháu - phòng bà chị dâu sau này đi lấy chồng thì tiêu tán hết của cải), nhưng chị dâu tôi không nghe, mà đòi hết tài sản đó để tự quyết định. Theo hàng thừa kế thì sẽ có bố tôi (vì mẹ tôi đã mất từ lâu), vợ anh tôi (chị dâu) và 02 cháu, nguyện vọng của bố tôi được thừa kế thì cũng sẽ làm giấy tờ để tặng lại tài sản cho hai cháu khi các cháu trưởng thành. *Hiện nay gia đình tôi chưa thỏa thuận được và rất bối rối về các nội dung sau:

 1. Thời gian tới, nếu có thể thỏa thuận được với chị dâu về tài sản thì: - 02 miếng đất có sổ đỏ (tên anh tôi) làm những thủ tục gì để chuyển cho hai cháu theo đúng quy định của pháp luật (với điều kiện chị tôi không thể tự ý quyết định sử dụng tài sản của 02 cháu). - 05 mảnh đất còn lại nếu bố tôi được 1 hoặc 2 mảnh mà muốn tặng lại cho 02 cháu thì phải làm thủ tục gì để khi các cháu trưởng thành sẽ tặng lại.

2. Nếu chị dâu tôi không đồng ý chia tài sản (di sản) thừa kế anh tôi để lại thì gia đình tôi phải làm những thủ tục gì để được giải quyết theo nguyện vọng của anh tôi? - Tài sản của các cháu tôi, những ai được quyền giám hộ? và làm thế nào để chị dâu tôi không lấy để tự ý bán đi được (bất động sản) phần của các cháu khi các cháu còn đang chưa thành niên? - 04 mảnh đất và ngôi nhà vợ chồng anh tôi đang sống hiện chưa có sổ đỏ thì phải làm những thủ tục như thế nào (vì đều mang tên anh tôi). - Nếu bố tôi viết giấy ủy quyền cho tôi thay mặt bố tôi để tham gia giải quyết các vấn đề trên trước cơ quan pháp luật thì có được không, tôi là con gái đã đi lấy chồng (vì bố tôi đã có tuổi, lại ở quê - trong khi đó toàn bộ di sản anh tôi sống trước kia là ở Kontum nên việc đi lại sẽ khó khăn cho ông). Tôi xin trình bày thêm: anh tôi mất trước đó mấy ngày do cãi nhau với vợ và chị dâu tôi đẩy anh tôi ngã (theo phim chụp thì bị rạn xương sườn), khi mất 02 tay và 02 bàn chân anh tôi có màu sẫm đen khác thường so với cơ thể, trên đầu có vết u, giống như do va chạm hoặc vật cứng đập vào -> khi thay áo thì tôi và chị gái đều phát hiện như vậy. Anh tôi mất đột ngột nên về phía gia đình do quá đau đớn cũng không nghĩ được nhiều lý do nên không biết làm gì hơn. Rất mong nhận được sự tư vấn, hỗ trợ và phản hồi từ Quý công ty, tôi xin chân thành cảm ơn rất nhiều!
Trân trọng!
Người gửi NTT

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật đất đai của Công ty Luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn tài sản thừa kế khi người mất không để lại di chúc ?

Luật sư tư vấn luật đất đai gọi số: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Về vấn đề này chúng tôi xin được tư vấn như sau:

 

1. Cơ sở pháp lý

Bộ luật Dân sự năm 2005

Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014

2. Nội dung tư vấn:

Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình về tài sản chung của vợ chồng thì:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng."

"Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luậtnày; tài sảnphục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."

Theo như phần trình bày của bạn, anh trai bạn có quyền sử dụng 2 mảnh đất đã mua và đã có sổ đỏ trước khi lấy vợ; 4 mảnh đất trong thời kỳ hôn nhân, sổ tiết kiệm và ngôi nhà đang ở. Theo như quy định trên, về nguyên tắc các tài sản phát sinh, thu lại được trong thời kỳ hôn nhân thì được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên, trong trường hợp này, nếu như gia đình bạn có thể chứng minh các tài sản trên là do phần lớn công sức đóng góp của anh trai bạn, chị dâu bạn hoàn toàn không tham gia vào việc làm phát sinh các tài sản trên (như bỏ nhà đi thường xuyên; không thực hiện nghĩa vụ chăm sóc chồng, con....) thì có thể số tài sản trên sẽ được Tòa án định đoạt là tài sản riêng của anh trai bạn trước khi chết. Bởi, đến thời điểm anh trai bạn chết, đơn ly hôn chưa được gửi đi, nghĩa là về mặt pháp lý, chị dâu bạn vẫn được xem là vợ của anh trai bạn, được xác định là hàng thứ nhất theo hàng thừa kế theo pháp luật. Về việc chia tài sản chung khi vợ hoặc chồng chết pháp luật có quy định như sau:

Điều 66. Giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết

1. Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.

2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế."

Về nguyên tắc, trường hợp này các tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, nếu số tài sản trên gia đình bạn không thể chứng minh việc chị dâu bạn không tham gia vào quá trình làm phát sinh tài sản, hay công sức đóng góp của chị ta là không có để hình thành các tài sản, thì quyền sử dụng 4 mảnh đất trên, sổ tiết kiệm, vàng và quyền sở hữu ngôi nhà sẽ được xác định là tài sản chung, và tiến hành chia đôi theo nguyên tắc trên. Như vậy, những tài sản chung trên sẽ được chia đôi trước khi tiến hành được thừa nhận là di sản để chia cho những người thừa kế khác. 

Theo quy định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005 về những người không được hưởng quyền thừa kế thì:

"Điều 643. Người không được quyền hưởng di sản  

1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản."

Nếu như gia đình bạn có thể chứng minh trong suốt quá trình chung sống, chị dâu bạn có những hành vi sai trái, hơn nữa, một trong những lý do khiến anh bạn chết đột ngột vì chị ta thì trong trường hợp này, chị dâu bạn được xác định là không có quyền hưởng di sản. Theo đó, các phần tài sản còn lại của anh trai bạn sẽ được chia cho những người ở hàng thừa kế thứ nhất là: 2 con của anh trai bạn và bố của bạn. Còn nếu không thể chứng minh, chị dâu của bạn vẫn sẽ được nhận một phần di sản bằng với bố bạn và các con. 

Trong trường hợp có thể thỏa thuận với chị dâu bạn, mà muốn sang tên quyền sử dụng mảnh đất đã đứng tên anh trai bạn cho các cháu. Nếu đúng như phần trình bày của bạn, chị dâu bạn không hề có ý định muốn chăm sóc các con, không thực hiện nghĩa vụ làm mẹ với các con thì lúc này gia đình của bạn có thể làm đơn yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của mẹ đối với con chưa thành niên theo quy định tại Điều 85 Luật Hôn nhân gia đình như sau:

Điều 85. Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên

1. Cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau đây:

a) Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;

b) Phá tán tài sản của con;

c) Có lối sống đồi trụy;

d) Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Sau khi được Tòa án tuyên chị dâu bạn bị hạn chế quyền với con chưa thành niên, sau đó gia đình bạn nộp đơn lên Tòa án yêu cầu giám hộ đương nhiên cho 2 cháu và lúc này Tòa án sẽ cho quyết định cho phép giám hộ đương nhiên, và người giám hộ đương nhiên lúc này là ông nội của cháu (bố của bạn).

 Sau đó, gia đình bạn cần làm một bộ hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất, trong đó có:

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh trai bạn;

- Giấy báo tử của anh trai bạn;

- Sổ hộ khẩu của gia đình anh trai bạn;

- Giấy khai sinh của các cháu;

- Quyết định giám hộ đương nhiên;

Hồ sơ trên người đại diện theo pháp luật của các cháu (ông nội) sẽ thực hiện và nộp tại Phòng Tài nguyên và Môi trường hoặc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất. Sau khi cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ, nếu hồ sơ hợp lệ thì sẽ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cháu của bạn, trong đó có ghi rõ người đại diện theo pháp luật lúc này là ông nội của cháu.

Sau này, sau khi bố bạn mất đi, người giám hộ của các cháu sẽ được xác định dựa trên quy định tại Điều 61 Bộ luật Dân sự năm 2005 như sau:

"Điều 61. Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên  

Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên mà không còn cả cha và mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cả cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Toà án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu, được xác định như sau:

1. Trong trường hợp anh ruột, chị ruột không có thoả thuận khác thì anh cả hoặc chị cả là người giám hộ của em chưa thành niên; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh, chị tiếp theo là người giám hộ;

2. Trong trường hợp không có anh ruột, chị ruột hoặc anh ruột, chị ruột không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ; nếu không có ai trong số những người thân thích này có đủ điều kiện làm người giám hộ thì bác, chú, cậu, cô, dì là người giám hộ."

Như vậy, sau khi bố bạn mất đi (trước đó đã hạn chế quyền của mẹ các cháu) thì người giám hộ đương nhiên lúc này sẽ là bạn. Vì vậy, trong trường hợp này, chị dâu bạn sẽ không thể tự ý bán những mảnh đất mà người đứng tên trong sổ đỏ là các cháu của bạn\

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi đối với vấn đề mà bạn thắc mắc. Cám ơn bạn đã tin tưởng !

Trân trọng ./.

Bộ phận Tư vấn Luật Dân sự.