Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: T.T

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật đất đai của Công ty luật Minh Khuê,

Tư vấn thủ tục thành lập

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai gọi: 1900 6162

Trả lời:

(Câu trả lời đang chờ cập nhật)

 

 

 

Nội dung trả lời

Kính chào bạn T.T, rất hân hạnh được trả lời câu hỏi của bạn.

Do thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi chỉ là bạn kết hôn năm 2011, chồng bạn mất năm 2013, sổ đỏ cấp năm 2010, nên chúng tôi đưa ra các trường hợp giả thiết sau:

- Trường hợp 1: Quyền sử dụng đất đó là tài sản riêng của bạn, có trước khi kết hôn, sau khi kết hôn không nhập vào tài sản chung. Đây là tài sản riêng của bạn, bạn có toàn quyền định đoạt đối với diện tích đất này. Trường hợp này thủ tục chuyển nhượng thực hiện như sau:

+ Hai bên thỏa thuận hình thành hợp đồng chuyển nhượng

+ Hai bên cùng có mặt tại Phòng/Văn phòng công chứng để thực hiện công chứng hợp đồng

+ Thực hiện sang tên Sổ đỏ tại Văn phòng đăng ký đất đai.

+ Thực hiện nghĩa vụ tài chính bao gồm: thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất động sản và lệ phí trước bạ.

+ Thời gian giải quyết: Trong thời hạn không quá 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Văn phòng đăng ký đất đai thẩm tra hồ sơ, gửi UBND cấp có thẩm quyền để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày thực hiện xong nghĩa vụ tài chính, các bên được nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại nơi đã nộp hồ sơ sang tên.

- Trường hợp 2: Quyền sử dụng đất đó là tài sản riêng của chồng bạn, có trước khi kết hôn, sau khi kết hôn không nhập vào tài sản chung. Đây là tài sản riêng của chồng bạn, bạn không có quyền định đoạt đối với diện tích đất này khi chưa chia di sản thừa kế. 

- Trường hợp 3: Quyền sử dụng đất đó là tài sản chung của vợ chồng bạn, bạn cũng không có toàn quyền định đoạt đối với diện tích đất này. Trong trường hợp này nếu bạn muốn bán đất thì trước hết phải thực hiện phân chia di sản thừa kế đối với diện tích đất này. 

Nếu chồng bạn chết mà không có di chúc thì di sản của chồng bạn được chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất (hàng thừa kế thứ nhất bao gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi). Lúc này, mảnh đất là tài sản chung của vợ chồng bạn thì trước hết sẽ được chia đôi, bạn được 1/2 giá trị mảnh đất, 1/2 giá trị còn lại của chồng bạn. Do chồng bạn đã qua đời nên 1/2 giá trị quyền sử dụng đất của chồng bạn được chia thừa kế theo pháp luật cho tất cả những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, bạn được hưởng 1 suất thừa kế.

Nếu chồng bạn chết mà có di chúc thì di sản của chồng bạn được chia theo di chúc. Ngay cả khi có di chúc thì mảnh đất là tài sản chung của vợ chồng trước tiên vẫn phải được chia đôi, bạn - với tư cách là vợ thì được hưởng 1/2 giá trị, 1/2 còn lại thuộc quyền của chồng bạn. Do chồng bạn đã qua đời và có di chúc thì 1/2 giá trị quyền sử dụng đất được chia theo di chúc.

Sau khi đã xác định được phần đất là tài sản riêng của bạn thì bạn có thể tiến hành chuyển nhượng quyền sử dụng đất một cách hợp pháp theo thủ tục như trên. 

Chúng tôi cũng xin nói thêm, bố mẹ chồng bạn còn sống và chỉ ảnh hưởng đến việc mua bán đất của bạn khi bạn muốn bán toàn bộ mảnh đất nêu trên mà mảnh đất này là tài sản chung vợ chồng hoặc là tài sản riêng của chồng bạn. Còn nếu mảnh đất là tài sản riêng của bạn hoặc là phần di sản bạn được hưởng sau khi chia thừa kế thì bố mẹ chồng bạn không có ảnh hưởng gì đến quyền định đoạt của bạn.

Về phía con của bạn, trong giấy khai sinh không ghi tên cha thì không có cơ sở xác nhận mối quan hệ cha con. Nếu như chồng bạn qua đời mà không có di chúc thì con của bạn cũng không được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi, rất mong có thể giải đáp được thắc mắc của bạn.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ