Sổ đỏ của tôi có ghi diện tích là 1,111m2, còn của mợ 2 độ khoảng 450m2. Tuy nhiên, từ trước đến giờ bên tôi sử dụng phần đất ít hơn so với giấy tờ và cứ nghĩ rằng 2 bên gần đều nhau, ngược lại bên kia cũng vậy, mợ 2 sử dụng nhiều hơn giấy tờ, họ có trông cây ngắn ngày như, chuối, khoai môn.... và có chăn bò ở trên mảnh đất ấy. Vừa qua, bên nhà mợ 2 chia đất cho mấy đứa con, mới phát hiện ra phần đất giáp với nhà tôi là tôi đứng tên, vì thế đã khởi kiện ra tòa án huyện để giải quyết vụ việc. Trong phiên xét xử ngày 20/3 vừa rồi, tòa án yêu cầu tôi phải hủy sổ đỏ chỉ được phép sử dụng 745m2 phần còn lại sẽ tách ra và xác nhập vào bên kia, đồng thời phải chi trả hơn 4 triệu đồng. Tòa cho 15 ngày để kháng án, nhưng không đưa ra biên bản phân xử và nói sau 10 ngày mới có biên bản.

Như vậy, tôi có thắc mắc, do đây là phần tài sản tôi được thừa kế, không lấy của ai, vậy làm sao mà phải trao trả, rồi lúc trước khi phân chia đất đai có sự đồng ý của 3 bên mới được làm 2 sổ đỏ kia mà (do tài nguyên của huyện không cho con trích lục giấy tờ hồi trước). Mong luật sư tư vấn, tôi thành thật cám ơn.

Người gửi: Công

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật đất đai của Công ty Luật Minh Khuê

Chia thừa kế

Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến gọi: 1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được trả lời như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ Luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011;

Luật đất đai năm 2013

2. Nội dung tư vấn

Theo Luật đất đai 2013 quy định như sau:

"Điều 97. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được cấp cho người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất theo một loại mẫu thống nhất trong cả nước.

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định cụ thể về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã được cấp theo quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật về nhà ở, pháp luật về xây dựng trước ngày 10 tháng 12 năm 2009 vẫn có giá trị pháp lý và không phải đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp người đã được cấp Giấy chứng nhận trước ngày 10 tháng 12 năm 2009 có nhu cầu cấp đổi thì được đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này."

"170. Nghĩa vụ chung của người sử dụng đất

1. Sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất, đúng quy định về sử dụng độ sâu trong lòng đất và chiều cao trên không, bảo vệ các công trình công cộng trong lòng đất và tuân theo các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Thực hiện kê khai đăng ký đất đai; làm đầy đủ thủ tục khi chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

3. Thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

4. Thực hiện các biện pháp bảo vệ đất.

5. Tuân theo các quy định về bảo vệ môi trường, không làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất có liên quan.

6. Tuân theo các quy định của pháp luật về việc tìm thấy vật trong lòng đất.

7. Giao lại đất khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất, khi hết thời hạn sử dụng đất mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền gia hạn sử dụng."

"Điều 171. Quyền sử dụng hạn chế đối với thửa đất liền kề

1. Quyền sử dụng hạn chế đối với thửa đất liền kề bao gồm quyền về lối đi; cấp, thoát nước; tưới nước, tiêu nước trong canh tác; cấp khí ga; đường dây tải điện, thông tin liên lạc và các nhu cầu cần thiết khác một cách hợp lý trên thửa đất liền kề.

2. Việc xác lập quyền sử dụng hạn chế đối với thửa đất liền kề thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự và phải thực hiện đăng ký theo quy định tại Điều 95 của Luật này."

Thứ nhất, xét việc chia thừa kế của của ông ngoại bạn đối với mảnh đất đó có đúng hay không. Việc chia thừa kê thì được thực hiện theo 2 phương pháp nếu người đó có để lại di chúc thì phần tài sản là mảnh đất được thực hiện theo di chúc. Còn nếu có di chúc mà di chúc đó không hợp pháp thì thực hiện việc chia thừa kế theo pháp luật. Theo như bạn nêu ra ở đây, bạn và mợ bạn đã được cấp sổ đỏ cho 2 mảnh đất được coi là di sản thừa kế rồi nhưng tình trạng sử dụng lại không đúng với phần diện tích được ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. 

Như vậy ở đây nếu có tranh chấp thì bạn cần đưa ra được những chứng cứ chứng minh được mảnh đất đó đang có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đứng tên của bạn và có biên lai thu tiền sử dụng đất đối với diện tích đất thực ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm căn cứ chứng minh mảnh đất đó có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc quyền sở hữu của bạn.

Thứ hai, nếu bạn không đồng ý với bản án sơ thẩm của tòa án cấp sơ thẩm thì trong vòng 15 ngày bạn có thể làm đơn kháng cáo lên tòa án cấp phúc thẩm dể tòa án cấp phúc thẩm giải quyết. 

Việc giải quyết của tòa là dựa trên quy định của pháp luật về thừa kế, đất đai, tranh chấp dân sự nên bạn phải xem xét trong bản án của tòa án có căn cứ vào những quy định nào của pháp luật và từ đó bạn.

Trên đây là những giải đáp của công ty chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật MInh Khuê