Em trai lấy vợ và ở rể. Toàn bộ mảnh đất của các cụ do ông nội tôi đứng tên sổ đỏ. Bà nội tôi là vợ cả sinh được 3 người con trai và 3 người con gái. Bà vợ hai sinh được 1 người con trai và 4 người con gái. Bà nội tôi là vợ cả sống cùng ông tôi trên 1 mảnh đất. Còn bà hai thì được chia đất giãn dân sống ở một mảnh đất khác. Các con gái của bà nội tôi đều đã đi lấy chồng từ hơn rất lâu. Trên mảnh đất chỉ có 3 hộ gia đình sinh sống là hộ khẩu của ông nội tôi (sống cùng bà nội và chú bị bệnh tâm thần), hộ khẩu bố tôi (sống cùng vợ và 2 anh e tôi), hộ khẩu của cô út (lấy chồng xa được ông chia cho đất làm nhà). Ông nội tôi đã mất năm 2003 nhưng chưa kịp làm sổ đỏ cho các con sống trên mảnh đất cùng ông tôi chỉ chia ra cho các con sống. Phần về một người con trai nữa của bà nội tôi là bác trưởng. Bác đi thoát li từ nhỏ hoạt động trong lĩnh vực công an và được nhà nước cấp nhà. Tháng 10/2013 bác có về quê xây 1 cái nhà được gọi là nhà thờ tổ trên mảnh đất mà ông nội tôi đã sống trước kia.

Phía trước của nhà thờ là 1 cái sân rộng khoảng 100m2. Toàn bộ mảnh đất có diện tích là 627 m2. Ông nội chia cho nhà tôi 200 m2 và đã xây nhà và bờ cõi khi ông còn sống. cô út 70m2. Chú tôi bị bệnh nên từ trước đên nay vẫn sống cùng bà nội tôi. Tất cả phần đất còn lại (trừ phần đất của bố tôi và cô út) được mặc định là đất của bác trưởng. Không ai trong số các con của ông tôi có ý định tranh chấp. Nay bác tôi lại muốn lấy 2m đất nhà tôi kéo thẳng và theo chiều ngang để bác tôi làm cổng cho mảnh đất phía sau của nhà thờ (2m kéo dài này là con đường đất cũ có từ thời các cụ nay ông nội đã cho nhà tôi nhưng không có giấy tờ). Nhưng gia đình tôi không cho phép. Bác tôi nói sẽ đưa ra pháp luật. Bố tôi là con trai thứ 2 đã sinh sống trên mảnh đất này từ nhỏ, lập ra đình từ năm 1990 và đóng tiền thuế đất từ năm 1992. Bố tôi mất năm 2010 nhưng mẹ tôi vẫn thay bố tôi đóng tiền thuế cho cả mảnh đất 627m2 đến nay.

Vậy nếu có tranh chấp xảy ra thì mảnh đất 627 m2 sẽ được chia như thế nào. Nó có được chia đều cho 11 người con ruột của ông tôi, 1 người con nuôi, 2 người vợ và 2 người e của ông tôi không? Rất mong nhận được sự tư vấn chi tiết cảu các luật gia!

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê

Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Kính thư.

Người gửi: Nguyễn Thu Hằng

>> Luật sư tư vấn luật Đất đai trực tuyến qua điện thoại gọi số:  1900 6162

 

Trả lời:

1. Cơ sở pháp lý

- Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội;

- Luật Hôn nhân và Gia đình của Quốc hội, số 52/2014/QH13.

2. Nội dung trả lời

Theo như thông tin bạn cung cấp thì phải xác định thời điểm ông bạn đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

Căn cứ  Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình:

"Điều 33: Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

TH1: Nếu ông bạn đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đất trước khi kết hôn, được thừa kế riêng và giữa ông bạn và hai người vợ không có thỏa thuận xác nhận đây là tài sản chung: 

Như vậy toàn bộ diện tích  627 m2 sẽ thuộc quyền sở hữu   của ông  bạn và được xác định là di sản thừa kế mà ông bạn để lại:

Nếu ông bạn để lại di chúc trước khi chết thì phần di sản này được chia theo nội dung trong di chúc.

Nếu ông bạn không để lại di chúc thì di sản thừa kế trên dược chia theo pháp luật

Căn cứ khoản 1 Điều 633 Bộ luật dân sự năm 2005:

« Điều 633. Thời điểm, địa điểm mở thừa kế

Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trong trường hợp Toà án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật này »

Căn cứ Điều 635 Bộ luật dân sự năm 2005:

“Điều 635. Người thừa kế

Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.”

Căn cứ Điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005 :

“Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật 

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;”

Như vậy theo quy định của pháp luật thì diện tích đất trên được chia cho hai người vợ của ông bạn, 11  người con của ông bạn nếu tất cả những người trên còn sống vào thời điểm ông bạn chết.

TH2: Nếu ông bạn đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong thời kỳ hôn nhân:

Căn cứ khoản 2 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:

“2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.”

Như vậy, diện tích đất trên được xác định là tài sản chung của ông bạn và hai người vợ theo nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó diện tích sau khi xác định chi theo quy định tại khoản 2 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 là di sản thừa kế của ông bạn và được chia như trường hợp 1.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê  

---------------------------------------------

THAM KHẢO MỘT SỐ DỊCH VỤ TƯ VẤN LUẬT:

1. Tư vấn tách thửa đất đai;

2. Tư vấn pháp luật đất đai;

3. Tư vấn cấp lại sổ đỏ bị mất;

4. Tư vấn mua bán, chuyển nhượng đất đai;

5. Tư vấn đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

6. Tư vấn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do trúng đấu giá;