Ba tôi trong coi vườn giúp việc bán dừa, bán chuối, bắt cá. 2. Đến năm 2004, UBND Huyện  cấp lại GCNQSD Đất cho tôi nhưng chỉ còn 2.944 m2 (mất 116 m2), trong khi bên tranh chấp được cấp 5.876 m2 (tăng thêm 286 m2) nhưng không chứng minh được vì sao tăng thêm diện tích này. 

Tôi tìm hiểu được là năm 2000, Công ty trặc địa và đo đạc bản đồ 301 ở TPHCM có đo đạc nhưng không có ký giáp ranh, chủ đất liền kề tự chỉ mốc giới, bên chúng tôi không có ai chứng kiến việc đo đạc này. Phần diện tích tăng thêm của bên tranh chấp còn do họ lấn thêm đường đi công cộng của nhà nước với diện tích 170 m2 (170 m2 + 116 m2 tranh chấp với bên tôi = 286 m2); cạnh phía Bắc tăng thêm 1,79 mét, cạnh phía Nam tăng thêm 4,08 mét. 3. Năm 2006, bên tranh chấp chia đất cho con nhưng cũng không có chữ ký giáp ranh của vợ chồng tôi, họ xây hàng rào kiên cố cũng không có vợ chồng tôi chứng kiến. Trước khi xây hàng rào kiên cố thì có hàng rào dâm bụt và kẽm gai do bên tranh chấp làm từ lâu, ba tôi không thấy sự biến động hàng rào nên đã ký giáp ranh cho họ chia đất cho con (ba tôi không được vợ chồng tôi ủy quyền ký kết các việc liên quan đến ranh giới đất). Năm 2006 thì cả 2 bên mới có GCNQSD Đất ký năm 2004, tới lúc này chúng tôi mới biết bị mất đất khi họ xây xong hàng rào mới.

Chúng tôi đã chứng minh cho bên tranh chấp biết sự biến động đất của 2 bên bằng Trích lục họa đồ và GCNQSD Đất 2 bên có biến động, nhưng họ không đồng ý hòa giải. Các hộ giáp ranh khác (3 bên còn lại) đều ký không tranh chấp với chúng tôi và làm chứng cho tôi, UBND Xã  thành lập cả đoàn xác minh chủ cũ bán đất cho tôi cũng xác nhận đất cho tôi. Trong khi làm chứng cho hộ liền kề là những người không sống ở địa phương, không liền kề. Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm xử chúng tôi thua kiện nhưng không hề đã động đến sự biến động đất giữa 2 lần cấp sổ đỏ năm 1994 và 2004, cán cân lực lượng làm chứng 2 bên. Tòa án tối cao và cấp cao TPHCM cũng không đồng ý cho chúng tôi kháng nghị giám đốc thẩm. Trong khi chờ đợi TANDTC tiếp tục xem xét vụ án theo Thông báo số 244-TANDTC-TB ngay 17/03/2016 do có ý kiến của Quốc Hội, thì Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại TPHCM lại ban hành Thông báo số 563-TB-VC3-VP ngày 27/06/2016 bác đơn kháng án của tôi với lý do quá thời hạn khởi kiện theo Khoản 1 điều 284 Luật TTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011.

*Xin hỏi luật sư tư vấn pháp luật của công ty:*

1. Trong vụ án này cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã có những sai phạm gì ? (Ví dụ về quy trình cấp/ cấp lại sổ đỏ, tư cách người ký giáp ranh, nhân chứng)...

2. Tôi phải làm gì tiếp theo để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình ?

3. Việc Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại TPHCM ra thông báo bác đơn của tôi do quá thời hạn khởi kiện có đúng Luật không trong khi tôi liên tục gửi đơn yêu cầu xét xử từ năm 2011 đến 2015 và ngay trong Bộ luật này có Điểm a khoản 3 Điều 159 quy định về thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp về quyền sở hữu tài sản: tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp về đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu; tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện. (File “Don khieu nai lan 2.pdf” và “Thong bao so 73-VKSTC-V7 - Ngay 21-02-2014.pdf“ có phê chuẩn bổ sung hồ sơ của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao) *Xin trân trọng và cám ơn !*

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật đất đai của công ty Luật Minh Khuê

Có tranh chấp khi xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất?

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến, Gọi: 1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

2. Nội dung giải đáp

- Căn cứ vào Điều 225 và Điều 303 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về xem xét tài liệu chứng cứ tại phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm như sau:

"Điều 225. Xét xử trực tiếp, bằng lời nói

1. Tòa án phải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án bằng cách nghe lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác, cơ quan, tổ chức được mời tham dự phiên tòa; hỏi và nghe trả lời câu hỏi; xem xét, kiểm tra tài liệu, chứng cứ đã thu thập được; điều hành và nghe tranh luận giữa các đương sự; nghe Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát.

2. Việc xét xử phải bằng lời nói và được tiến hành tại phòng xử án.

Điều 303. Thủ tục hỏi và công bố tài liệu, chứng cứ, xem xét vật chứng tại phiên tòa phúc thẩm

1. Thủ tục hỏi những người tham gia tố tụng và công bố tài liệu, chứng cứ, xem xét vật chứng quy định tại Điều 287 của Bộ luật này tại phiên tòa phúc thẩm được thực hiện như tại phiên tòa sơ thẩm.

2. Việc hỏi được thực hiện đối với những vấn đề thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm quy định tại Điều 293 của Bộ luật này."

Vậy khi bạn cung cấp tài liệu chứng cứ cho Toà án thì tại hai phiên toà xét xử sơ thẩm và phúc thẩm, toà án phải có nghĩa vụ xem xét tài liệu chứng cứ. Nếu toà án không xem xét thì vi phạm quy định của pháp luật về thủ tục tố tụng dân sự.

- Điều 13 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như sau:

"Điều 13. Trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng

1. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải tôn trọng Nhân dân và chịu sự giám sát của Nhân dân.

2. Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Viện kiểm sát có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

3. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải giữ bí mật nhà nước, bí mật công tác theo quy định của pháp luật; giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên, giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ.

4. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Trường hợp người tiến hành tố tụng có hành vi trái pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

5. Người tiến hành tố tụng trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho cơ quan, tổ chức, cá nhân thì cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật đó phải bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước."

Vậy khi bạn có phát hiện ra có sự vi phạm trong tiến hành tố tụng bạn có quyền kháng nghị bản án, quyết định của toà án để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định tại Điều 326 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:

"Điều 326. Căn cứ, điều kiện để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

1. Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:

a) Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự;

b) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật;

c) Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba.

2. Người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 331 của Bộ luật này kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này và có đơn đề nghị theo quy định tại Điều 328 của Bộ luật này hoặc có thông báo, kiến nghị theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 327 của Bộ luật này; trường hợp xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba thì không cần phải có đơn đề nghị."

- Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm quy định Tại Điều 334 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:

"Điều 334. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

1. Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng có các điều kiện sau đây thì thời hạn kháng nghị được kéo dài thêm 02 năm, kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị:

a) Đương sự đã có đơn đề nghị theo quy định tại khoản 1 Điều 328 của Bộ luật này và sau khi hết thời hạn kháng nghị quy định tại khoản 1 Điều này đương sự vẫn tiếp tục có đơn đề nghị;

b) Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 326 của Bộ luật này, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, của người thứ ba, xâm phạm lợi ích của cộng đồng, lợi ích của Nhà nước và phải kháng nghị để khắc phục sai lầm trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đó."

Vậy pháp luật quy định thời hạn kháng nghị là 3 năm, bạn đã liên tục gửi đơn trong vòng 4 năm từ năm 2011 đến 2015 nên theo quy định trên nêu quá 3 năm mà đương sự tiếp tục gửi đơn kháng nghị thì được gia hạn thêm 2 năm. Cho nên, đơn kháng cáo của bạn vẫn được chấp nhận và Viện kiểm sát phải chấp nhận đơn kháng cáo của bạn.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Tư vấn Pháp luật đất đai - Công ty luật Minh KHuê