Cha tôi và các cô em gái muốn khi bán nhà xong sẽ chia đều cho 5 anh em tôi và cha tôi. Nhưng tôi đòi hỏi phải chia cho tôi 1 tỷ rưỡi (nhà tôi ở mặt tiền, đường khá lớn, có thể bán trên 5 tỷ) vì các em gái tôi đều khá giả và có nhà cửa đàng hoàng sang trọng. Tôi đã ra tòa 6 lần nhưng vẫn không giải quyết được. Cách đây 1 năm hơn, em A đã gọi và hẹn tôi, cha tôi và các em còn lại ra công chứng, nói với tôi rằng ký giấy ủy quyền cho em A, rồi em A sẽ giao 1 tỷ rưỡi cho tôi. Hôm đó tôi đã không đủ sáng suốt và không mang theo kính nên đã ký tên lăn tay khi không đọc rõ bản hợp đồng. Sau khi tất cả đều ký tên ủy quyền cho em A. Tôi hỏi tiền bạc thì em A lật mặt nói không có tiền. Tôi giận dữ đòi làm ra lẽ, thì cha tôi, em A và tôi đã ký 1 bản viết tay, có chữ ký của 3 người, là sau khi bán nhà sẽ chia cho tôi 1 tỷ 500 triệu. Tới cuối năm ngoái vì mâu thuẫn giữa tôi và cha, nên đã làm vách ngăn đôi nhà ra rồi làm cửa thông ra hẻm gần nhà. Gia đình vợ chồng con cái tôi sống phía sau. Cha tôi và đứa em áp út sống phía trước nhà. Tôi có nhiều lần gọi điện hỏi em A về giấy tờ công chứng năm trước và tôi muốn xem lại. Nhưng em A luôn tìm cách từ chối để tôi không thể xem. Gần đây tôi gọi thì em A nói hiện nay em A đã đứng tên sổ đỏ của ngôi nhà chúng tôi đang sinh sống. Tôi rất bàng hoàng và tức giận. Xin hỏi luật sư, giấy tôi đã ký tên và công chứng ở trên có thể vô hiệu hóa được không? Tôi có tham khảo và thấy điều 132 bộ luật Dân sự 2005 và nhận thấy mình bị lừa đảo vì đã không hiểu đúng tính chất của giấy tờ tôi đã ký và lăn tay ở công chứng. Tôi cần làm những gì để chứng minh. Và bản thỏa thuận viết tay giữa tôi, cha tôi và em A có hiệu lực pháp lý không? Xin cảm ơn luật sư.

Người gửi: T.D

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật đất đai của Công ty luật Minh Khuê.

 Luật sư tư vấn luật đất đai gọi: 1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Đối với vấn đề bạn đang thắc mắc chúng tôi xin được giải đáp như sau:

1. Cơ sở pháp lý

Bộ Luật Hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009

2. Nội dung tư vấn

Theo thông tin bạn cung cấp thì sau khi ký hợp đồng ủy quyền cho em bạn, giữa bạn, bố và em bạn đã có bản thỏa thuận viết tay là sau khi bán nhà sẽ chia cho tôi 1 tỷ 500 triệu. Do chưa xác định rõ bản chất sự việc nên chúng tôi sẽ tư vấn cho bạn theo hai hướng:

Hướng thứ nhất: Em bạn và ba bạn thật sự muốn bán căn nhà và chia cho bạn số tiền 1 tỷ 500 triệu đồng

Do hợp đồng ủy quyền bạn đã ký tại phòng công chứng nên sẽ có giá trị pháp lý. và sau đó, vì lý do nào đó mà em bạn không bán mảnh đất này nữa. Hiện tại thì bạn có thể khởi kiện yêu cầu em bạn phải chia cho bạn số tiền 1 tỷ 500 triệu theo thỏa thuận giữa ba người. Về thủ tục thì bạn có thể khởi kiện tại Tòa án nhân dân cấp huyện để đòi lại số tiền theo thỏa thuận. 

Hướng thứ hai: Em bạn và ba bạn lừa bạn

Nếu ngay từ ban đầu em bạn và ba bạn lừa bạn để bạn ký vào văn bản ủy quyền và cố tình viết giấy thỏa thuận để bạn yên tâm thì hành vi này của em bạn và bố bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 Bộ luật hình sự:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một  trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,  thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật đất đai qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẳn sàng giải đáp.

Trân trọng ./.

Bộ phận Tư vấn luật đất đai.