Mảnh đất còn lại của gia đình ông Ngọ có chiều rộng 11m, diện tích xây nhà là 11m x 13,2 m ( Chi tiết sơ đồ mảnh đất được vẽ trên giấy bán nhà, đất ). Việc mua bán đã được sự đồng ý của vợ và con ông Ngọ cùng sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị Bình và ông Đỗ Ngọc Dần – Tổ trưởng tổ dân phố.

Thửa đất số 1 có cạnh AB dài 20,5m m được trích theo BĐĐC.

Phần đất còn lại của ông Ngọ sau khi bán cho gia đình tôi thể hiện trên bản đồ được giới hạn bởi các điểm.

Trong quá trình mua bán chúng tôi đã thấy toàn bộ đất của ông Ngọ là do ông Ngọ được thanh lý và mua lại của một số hộ khác; đất trước khi giao bán cho tôi thuộc thửa số 1, tờ bản đồ địa chính số 22 và gồm hai phần:

1 - Đất đã được cấp GCNQSDĐ: Phần đất này được cấp GCNQSDĐ ngày 15/12/2000 thuộc thửa số 1, tờ bản đồ địa chính số 22 với diện tích 198 m2 ( trên GCNQSD đất không vẽ sơ đồ thửa đất; Đây là đất ông Ngọ mua lại của người khác có nguồn gốc là đất ở gắn liền với nhà thanh lý.

2- Đất chưa làm thủ tục cấp GCNQSDĐ: Phần đất này có nguồn gốc đất trên nhà thanh lý, các giấy tờ liên quan gồm 03 bản gốc giấy tờ thanh lý nhà và hoa màu mang tên ông Ngọ, ông Có và bà Lưu; Phần đất này cũng thuộc thửa số 1 tờ bản đồ địa chính số 22, loại đất: T (đất ở), duyệt tháng 11/2000.

Khi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông Ngọ chỉ làm phần diện tích đất mua của hộ khác được thanh lý với diện tích là 198 m2 ; còn lại đất của ông Ngọ, đất mua của bà Lưu và ông Có chưa đề nghị cấp GCNQSD đất .

Khi trao đổi mua bán, vì trên GCNQSD đất chỉ ghi diện tích được cấp 198 m 2, không có sơ đồ của thửa đất nên các bên thống nhất các nội dung như sau:

  1. Gia đình ông Ngọ đồng ý bán toàn bộ diện tích đất 589 m2 cho gia đình tôi và chỉ để lại ngôi nhà có chiều rộng 11 m ( như sơ đồ đã vẽ trên giấy bán nhà, đất ). Điều này có nghĩa là phần đất gia đình ông Ngọ bán cho gia đình tôi bao gồm toàn bộ diện tích đất có giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật và một phần diện tích đất thuộc giấy CNQSDĐ (nếu có).
  2. Gia đình ông Ngọ có trách nhiệm phối hợp với gia đình tôi để thực hiện chuyển quyền sử dụng đất theo luật định, chi phí chuyển QSDĐ do gia đình tôi chịu. Trường hợp trong số 589 m2 đất chuyển nhượng có một phần diện tích đất nằm trong số diện tích 198 m2 đất đã được cấp GCNQSDĐ thì gia đình ông Ngọ sẽ đổi lại GCNQSD đất cho phù hợp với diện tích đất còn lại sau khi đã bán cho gia đình tôi.
  3. Các bên đã trao đổi thống nhất các nội dung mua bán và giá cả rồi tiến hành lập giấy tờ mua bán nhà, đất ; khi bàn giao nhà, đất, giao tiền đều có sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị Bình và tổ trưởng dân phố xác nhận đã có giao dịch mua bán.

Như vậy theo điều 50, điều 146 luật đất đai năm 2003, điểm 1 điều 66 của nghị định 84//2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của chính phủ thì toàn bộ diện tích đất của ông Ngọ có đủ điều kiện theo quy định để thực hiện quyền chuyển nhượng đất đai nên gia đình tôi đã mua mảnh đất này.

Sau khi làm giấy tờ mua bán nhà, đất với gia đình ông Ngọ, tôi có mang giấy tờ ra UBND phường để xác nhận nhưng cán bộ địa chính giải thích mảnh đất gia đình tôi mua chưa được cấp GCNQSDĐ nên UBND phường không xác nhận vào giấy tờ mua bán.

Tháng 11 năm 2007 gia đình tôi chuyển người, vật tư, máy móc thiết bị xây dựng công trình đến khu đất mới mua trên và ở đó ổn định từ tháng 11/2007 ; trong quá trình sử dụng từ tháng 10/2007 đến trước thời điểm gia đình ông Ngọ bán phần đất còn lại, gia đình tôi không có sự tranh chấp về đất đai với gia đình nhà ông Ngọ và những người xung quanh.

Cuối tháng 6/2008 gia đình ông Ngọ bán phần đất còn lại cho gia đình bà Phạm Thị Uyên. Khi bà Phạm Thị Uyên mua nhà của ông Ngọ, gia đình tôi, gia đình ông Ngọ và gia đình bà Phạm Thị Uyên đã xác định rõ ranh giới ở thực địa mảnh đất gia đình tôi đã mua và đất còn lại gia đình ông Ngọ bán cho gia đình bà Phạm Thị Uyên ( mảnh đất của gia đình tôi mua hiện đang  ở và có tường rào xây bằng gạch xung quanh, độc lập với mảnh đất nhà ông Ngọ bán cho gia đình Phạm Thị Uyên).

Từ thời điểm trước và sau khi mua đất của gia đình ông Ngọ đến ngày 03/7/2008, tôi đã nhiều lần ra gặp cán bộ địa chính để xem bản đồ quy hoạch, bản đồ địa chính và hỏi về thủ tục xin cấp GCNQSDĐ đối với mảnh đất tôi mua của gia đình ông Ngọ. Ngày 03/ 7/2008 tôi lại đến đến UBND phường Trung Thành để hoàn tất về thủ tục xin cấp GCNQSDĐ thì được biết UBND phường đã làm hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất cho gia đình bà Phạm Thị Uyên với diện tích 198 m2 và trên sơ đồ thửa đất ghi kích thước là 15,84 x 12,5m ( chiều bám theo mặt đường dài 15,84m). Như vậy mảnh đất mà UBND phường làm thủ tục chuyển quyền cho gia đình bà Phạm Thị Uyên đã lấn sang phần đất của gia đình tôi  4,84m theo chiều bám mặt đường.

Theo hồ lưu tại Văn phòng Đăng ký QSD Đ thì hồ sơ cấp GCNQSD Đ của ông Ngọ thì hồ sơ gồm:

1- Bản đồ quy hoạch số : QH.01/1 đã được Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Thái nguyên duyệt ngày 15/12/1997.

2- Bản đồ địa chính phê duyệt tháng 11 năm 2000.

3- Công văn số 485/CV-UB ngày 10/11/2000 của UBND thành phố Thái Nguyên về việc: Đề nghị cấp giấy CNQSDĐ cho các hộ dân đã nộp đủ tiền sử dụng đất tại khu dân cư đồi Độc Lập phường Trung Thành thành phố Thái Nguyên.

4- Văn bản đề nghị chỉnh lý của UBND phường Trung Thành.

Trong văn bản của UBND phường Trung Thành thì UBND phường đề nghị cấp GCNQSDĐ cho ông Ngọ diện tích 198 m2 thuộc thửa số 1, tờ bản đồ địa chính số 22.

Theo công văn số 485/CV-UB ngày 10/11/2000 của UBND thành phố Thái Nguyên thì UBND thành phố đề nghị UBND tỉnh cấp GCNQSDĐ cho ông Ngọ thuộc ô quy hoạch số 111+112, , thửa số 1 tờ bản đồ địa chính số 22 với diện tích 198 m2.

Ngày 15/12/2000 ông Ngọ được UBND tỉnh Thái Nguyên cấp GCNQSDĐ số 08406 với diện tích 198 m2 ; trên GCNQSDĐ không vẽ sơ đồ thửa đất.

Với hồ sơ nêu trên cho thấy UBND tỉnh Thái Nguyên đã cấp GCNQSD cho ông Ngọ theo đúng đề nghị của UBND thành phố Thái Nguyên tại công văn số 485/CV-UB ngày 10/11/2000; như vậy giấy CNQSDĐ của ông Ngọ thuộc ô số 111 và một phần ô số 112 ( Ô 111 có diện tích 150 m 2, ô 112 mới chỉ được cấp 48m 2 tương đương 1,92m bám theo mặt đường ).

Sơ đồ lô đất số 111 và 112 như sau:

( Sơ đồ này được trích từ theo bản đồ quy hoạch số : QH.01/1 đã được Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Thái nguyên duyệt ngày 15/12/1997 ).

Với các căn cứ nêu trên nên tôi đã viết đơn khiếu nại gửi UBND thành phố về việc cán bộ địa chính phường làm hồ sơ chuyển QSDĐ cho gia đình bà Phạm Thị Uyên với diện tích 198 m 2 và trên hồ sơ cấp đất ghi kích thước thửa đất có chiều dài là 12,5 m, chiều rộng bám theo mặt đường là 15,84 m là không phù hợp với hiện trạng sử dụng đất, không phù hợp với bản vẽ quy hoạch chi tiết đã được duyệt, không phù hợp với hồ sơ gốc cấp đất cho gia đình ông Ngọ, không đúng với hiện trạng sử dụng đất và không đúng lưu trình cấp chuyển QSDĐ theo quy định hiện hành thể hiện ở các điểm sau:

  1. Theo công văn số 485/CV-UB ngày 10/11/2000  và bản vẽ quy hoạch thì diện tích 198 m2 chỉ bao gồm lô số 111 và một phần của lô số 112, ( thực tế căn nhà hai tầng của ông Ngọ được xây dựng trên khuôn viên đất hình chữ nhật có kích thức 14,9 m x 11,0 m ), điều này đồng nghĩa với việc chiều rộng bám theo đường quy hoạch chỉ cần dài có 7,92 m là có đủ diện tích 198 m2  ( 25,0m x 7,92m = 198 m2 ); cũng theo theo thiết kế quy hoạch thì tổng chiều rộng của lô 111 và lô 112 là 14,0 m,  nhưng cán bộ địa chính xác định chiều dài cạnh này là 15,84 m.
  2.  Trong hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của cho gia đình bà Phạm Thị Uyên cán bộ địa chính xác định chiều dài mảnh đất là 12,5 m, trong khi đó chiều dài ô đất theo bản vẽ quy hoạch là 25,0 m.
  3. Thực tế cho tấy tim đường theo bản vẽ quy hoạch không trùng với tim đường hiện tại, việc cán bộ địa chính không căn cứ vào kích thước các lô đất trong bản vẽ QH mà chỉ căn cứ vào tim đường hiện có và chiều rộng của đường quy hoạch để xác định chỉ giới cấp đất đã dẫn đến chiều dài cạnh AB chỉ còn có 12,5 m trong khi đó theo bản vẽ quy hoạch thì chiều dài cạnh AB là 25,0 m. Với cách xác định như trên của cán bộ địa chính thì toàn bộ các lô đất đã được cấp giấy CNQSDĐ thuộc các lô: từ lô số 190 đến lô 216,  lô 126 đến lô 139 … sẽ  bị cấp đất lấn sang chỉ giới quy hoạch đường từ 2 m đến 5 m.
  4. Khi xây nhà gia đình ông Ngọ có giấy phép xây dựng nhà, có giấy CNQSDĐ được cấp trên cơ sở bản đồ quy hoạch được duyệt; dưới sự quản lý của chính quyền địa phương ông Ngọ sẽ phải xây dựng theo đúng giấy phép được duyệt, đúng quy hoạch và nằm trong khuôn viên đã được cấp GCNQSDĐ. Hiện tại khuôn viên xây dựng nhà của ông Ngọ là hình chữ nhật có kích thước 14,9 m x 11,0 m, như vậy tại thời điểm xây nhà ông Ngọ đã được cấp phép XD và dưới sự giám sát của chính quyền địa phương không có lẽ gia đình ông Ngọ vẫn xây dựng lấn vào đường quy hoạch 2,4 m .
  5.  Gia đình tôi đã sử dụng đất ổn định từ tháng 10/2007 đến trước thời điểm gia đình ông Ngọ bán phần đất còn lại, trong quá trình sử dụng gia đình tôi không có sự tranh chấp về đất đai với những người xung quanh. Căn cứ điểm d khoản 1 và điểm d, e, khoản 2 điều 47 của Luật đất đai năm 2003, khoản 2 điều 148 , khoản 1 và 2 điều 182 Nghị định số 181, hướng dẫn số 106/HD-TN&MT ngày 01/7/2005 của phòng Tài nguyên & Môi trường TPTN và theo mẫu quy định trong hợp đồng chuyển nhượng đất đai thì khi làm hồ sơ chuyển QSDĐ giữa gia đình ông Ngọ và gia đình bà Phạm Thị Uyên cán bộ địa chính phải có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ, kiểm tra hiện trạng sử dụng đất, đóng cọc để xác định ranh giới ngoài thực địa và trích đo sơ đồ thửa đất trên thực địa theo đúng hiện trạng sử dụng đất của các bên; nhưng trên thực tế thửa đất trên hồ sơ chuyển nhượng đã không được vẽ đúng như hiện trạng sử dụng đất, không được đóng cọc để xác định ranh giới thửa đất còn lại sau khi chuyển nhượng. ( Gia đình ông Ngọ đã có bản tường trình cho biết trong quá trình xác định chỉ giới lô đất bán cho gia đình bà Phạm Thị Uyên, tất cả các thành viên trong gia đình ông Ngọ không chỉ sang phần đất đã bán cho gia đình tôi; Việc xác định chỉ giới đất lấn sang đất của gia đình tôi là do cán bộ địa chính và gia đình bà Phạm Thị Uyên tự xác định; bản tường trình này có chữ ký của tất cả các thành viên tring gia đình ông Ngọ và có chứng thực của chính quyền địa phương).
  6. Thực tế cho thấy tất cả các hộ dân trong khu dân cư đồi độc lập đều được cấp GCNQSDĐ theo đúng kích thước của ô quy hoạch và tâm đường hiện tại ở thực địa không phải là tâm đường quy hoạch; như vậy tại sao tất cả các hộ được cấp bìa tại thời điểm đó không được chỉnh lý bản đồ mà duy nhất hộ gia đình ông Ngọ lại được chỉnh lý và diện tích chỉnh lý lại vượt ra ngoài bản đồ quy hoạch được duyệt, cụ thể ô số 111 và 112 có tổng chiều rộng tối đa là 14m trong khi đó lại chỉnh lý rộng ra tới 15,84m.

Ví dụ:

- Hộ bà Nguyễn Thị Vinh được cấp GCNQSDĐ năm 2005 tại thửa đất số 51 tờ bản đồ địa chính số 22 với kích thước (3,4m x 20,23m = 68,8m2), kích thước này hoàn toàn phù hợp với bản vẽ QH ; theo bản đồ địa chính thì thửa đất này chỉ có kích thước  (3,46 m x 18,1m), thửa đất này có hai mặt bên tiếp giáp với hai hộ liền kề, phía sau là rãnh thoát nước, phí trước là đường quy hoạch rộng 9m, với kích thước (3,4m x 20,5) thì diện tích đất được cấp nhiều hơn diện tích ghi trên bản đồ địa chính và nằm trùn lên đến đúng tâm đường hiện tại vậy tại sao trong trường hợp này lại không chỉnh lý bản đồ địa chính mà vẫn cấp đất trùm lên đường.

- Hộ ông Lê Văn Hoan và bà Nguyễn Thị Thanh được cấp GCNQSDĐ năm 2005 tại thửa đất số 234 tờ bản đồ địa chính số 2 với diện tích 220m2; trên sơ đồ ghi đường giao thông rộng chỉ có 7m trong khi đó theo bản đồ quy hoạch thì đường rộng 19,5m. Vậy tại sao trong trường hợp này cũng không chỉnh lý bản đồ địa chính mà vẫn cấp đất trùm lên đường.

- Nếu coi tâm đường hiện tại là tâm đường quy hoạch thì toàn bộ các lô đất đã được cấp giấy CNQSDĐ thuộc các lô: từ lô số 190 đến lô 216,  lô 126 đến lô 139 … đều  bị cấp đất lấn sang chỉ giới quy hoạch đường từ 2 m đến 5 m; vậy tại sao những trường hợp này lại không chỉnh lý.

Như vậy tại thời điểm năm 2000 khi cấp bìa không có lý do gì thửa đất của ông Ngọ lại được chỉnh lý và xoay ngang ra thành 12,5m x 15,8m (chiều 25m của ô QH chỉnh xuống còn 12,5m).

Diễn biến quá trình giải quyết đơn thư ở cấp phường và cấp thành phố.

- Khi được biết gia đình bà Phạm Thị Uyên đang làm hồ sơ chuyển QSDĐ và trong hồ sơ chuyển quyền còn tồn tại những sai sót trên, ngày 04/7/2008 gia đình tôi đã nộp đơn đề nghị dừng chuyển QSDĐ giữa gia đình ông Ngọ và gia đình bà Phạm Thị Uyên gửi UBND phường Trung Thành nhưng không được giải quyết.

- Ngày 10/7/2008 và ngày 01/01/2009  tôi có đơn đề nghị về việc giải quyết tranh chấp đất đai gửi UBND phường Trung Thành; Trong khoảng thời gian từ 10/7/2008 đến tháng 10/2009, UBND phường Trung Thành đã 03 lần tổ chức hòa giải nhưng không thành với lý do thiếu thành phần tham gia.

- Ngày 05/6/2010 tôi có đơn khiếu nại gửi UBND phường Trung Thành; ngày 05/10/2010 UBND phường Trung Thành có văn bản trả lời số 80/UBND-VP.

- Không đồng ý với nội dung trả lời đơn của UBND phường Trung Thành, ngày 10/11/2010 tôi có đơn khiếu nại gửi UBND thành phố Thái Nguyên;

- Ngày 02/12/2010 UBND thành phố Thái Nguyên có văn bản số 853/UBND-TTr về việc giao nhiệm vụ giải quyết đơn của công dân, theo tinh thần của công văn này thì UBND thành phố giao cho phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố kiểm tra, xác minh và tham mưu cho UBND thành phố giải quyết theo quy định của pháp luật. Thời gian xong trước ngày 10/01/2011.

- Ngày 17/4/ 2011 cán bộ phòng Tài nguyên và môi trường Thành phố xuống kiểm tra thực địa theo đơn kiếu nại của gia đình tôi. Thành phần tham gia hôm đó gồm có Cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường, cán bộ địa chính phường, tổ trưởng dân phố , gia đình bà Uyên; Trong quá trình làm việc gia đình tôi được các " cán bộ" giải thích đây chỉ là buổi xuống kiểm tra thực địa xác định diện tích đất đang tranh chấp, không phân xử đúng sai nên mọi ý kiến của các bên sẽ được trình bày ở một hội nghị do UBND thành phố tổ chức tại Phường Trung Thành (Sự thực thì không có hội nghị nào được tổ chức cả).

- Ngày 06/5/2011 tôi nhận được công văn số 223/CV-TN&MT ngày 29/4/2011 của Phòng TM&MT thành phố TN và trong nội dung công văn trả lời đã phản ánh hoàn toàn sai so với thực tế sử dụng đất và thực tế diễn biến trong quá trình chuyển nhượng; điểm đáng lưu ý là Phòng TM&MT thành phố TN cho rằng tại thời điểm ông Ngọ được cấp GCNQSD, thửa đất đã được UBND phường Trung Thành chỉnh lý tại tờ bản đồ địa chính số 22 thửa số 01 diện tích 198m2 có kích thước 12,5m x 15,84m.

- Sau khi đọc tôi không đồng ý với nội dung đơn trả nên ngày 16/ 5/ 2011 tôi có đơn gửi UBND thành phố và Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố đề nghị xem xét lại các nội dung trả lời trong công văn số 223/CV-TN&MT ngày 29/4/2011 nhưng không được UBND thành phố xem xét giải quyết.

Việc Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố ra công văn số 223/CV-TN&MT ngày 29/4/2011 không đúng thẩm quyền, không phản ánh đúng hiện trạng sử dụng đất của các bên đã vô hình dung tạo hành lang pháp lý cho gia đình bà Phạm Thị Uyên tiến hành xây dựng hành rào và không cần xin phép chính quyền địa phương, tháng 5/2011 gia đình bà Phạm Thị Uyên đã tiến hành xây dựng hàng rào lấn sang đất nhà tôi 98,3 m2 đất (20,3m x 4,84m = 98,3 m2) đồng thời chiếm luôn một gian nhà cấp 4 và một gian bếp nằm trong phần đất này, (gia đình tôi đã gửi đơn ra UBND phường nhưng chưa được giải quyết).

- Ngày 01/3/2012 tôi tiếp tục có đơn gửi UBND thành phố và Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố đề nghị xem xét lại các nội dung trả lời trong công văn số 223/CV-TN&MT ngày 29/4/2011; Đến ngày 25/4/2012 tôi nhận được công văn trả lời số 347a/CV-TN&MT.

Sau khi xem xét nội dung hai công văn trả lời trên của Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố tôi nhận thấy nội dung đơn trả lời còn rất nhiều điểm mâu thuẫn và bất hợp lý không phản ánh đúng thực tế trong quá trình chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thực tế sử dụng đất của các bên, không phù hợp với bản vẽ quy hoạch đã được phê duyệt; mặt khác, việc Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố trả lời đơn khiếu nại của công dân là không đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

- Ngày 27/4/2012 tôi có đơn khiếu nại (lần 2) gửi UBND thành phố Thái Nguyên, ngày 22/6//2012 UBND TP có văn bản số 684/UBND-VP giao cho phòng TN&MT chủ trì phối hợp với các đơn vị liên quan kiểm tra, tham mưu đề xuất UBND thành phố giải quyết theo quy định, báo cáo UBND thành phố trước ngày 02/8/2012.

 Ngày 20/8/2012 tôi đến trụ sở tiếp công dân của TP thì nhận được văn bản số 188a/UBND-TNMT ngày 03/8/2012 của phòng TN&MT, tôi có thắc mắc về nội dung trả lời và thẩm quyền trả lời đơn thì được anh Hoàng cán bộ của bộ phận tiếp công dân hướng dẫn vào gặp anh Ích phó phòng TN&MT; khi gặp anh anh Ích tôi nhận được câu trả lời là phòng TN&MT và UBND thành phố đã trả lời theo đơn như trên là đúng thẩm quyền và đúng quy định của pháp luật, nếu tôi có gửi đơn nữa thì sẽ không được nhận đơn nữa, tôi có hỏi lại anh Hoàng thì được trả lời theo luật khiếu nại thì văn bản trả lời của phòng TN&MT cũng được coi là quyết định trả lời đơn khiếu nại.

Tuy nhiên, căn cứ khoản 11 điều 2, khoản 3 điều 6 và khoản 1 điều 54 Luật Khiếu nại và theo hướng dẫn của bộ phận tiếp công dân của Tỉnh thì đơn khiếu nại phải được UBND thành phố ra quyết định trả lời.

- Ngày 24/8/2012 tôi gửi đơn khiếu nại lần 3 đến UBND thành phố Thái Nguyên; Ngày   /8/2012 tại buổi họp tiếp công dân, đồng chí Tiến – phó chủ tịch UBND thành phố đã giao cho anh Na –phó phòng TN&MT thành phố tổ chức đối thoại và giải quyết đơn, khi tôi đến phòng TN&MT thành phố để giải quyết thì anh Na bảo sang gặp anh Ích, khi gặp anh Ích  trả lời là phòng TN&MT thành phố đã trả lời rồi lên không tổ chức đối thoại giải quyết nữa; Tôi đã đề nghị anh Ích tham mưu cho UBND thành phố trả lời đơn theo đúng quy định của Luật khiếu nại nhưng đến nay tôi vẫn chưa nhận được quyết định trả lời đơn khiếu nại theo quy định của Luật khiếu nại.

Căn cứ điều 28 Luật Khiếu nại thì thời gian giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày nhưng với trường hợp của tôi, tính từ ngày giửi đơn khiếu nại lần đầu là ngày 10/11/2010 đến ngày10/10/2012 nay đã là 690 ngày, tôi đã phải tốn quá nhiều thời gian và công sức đi lại nhưng chưa nhận được quyết định trả lời đơn khiếu nại của UBND thành phố mà chỉ nhận được 03 văn bản trả lời của phòng TN&MT thành phố.

- Theo hướng dẫn của Phòng TN&MT thành phố Thái Nguyên, ngày 12/10/2012 tôi đã làm đơn khởi kiện vụ án hành chính ra tòa.

Trong đơn tôi có đề nghị Tòa án Nhân dân thành phố Thái Nguyên hủy giấy chứng nhận QSDĐ đã cấp cho gia đình bà Phạm Thị Uyên và chồng là ông Nguyễn Anh Tuấn đã được cấp ngày 26/6/2008; Cấp lại giấy chứng nhận QSDĐ cho gia đình bà Phạm Thị Uyên và chồng là ông Nguyễn Anh Tuấn theo đúng chỉ giới, mốc giới và diện tích đất còn sau khi gia đình ông Ngọ bán cho gia đình tôi – Như vậy diện tích đất của gia đình bà Uyên sau khi cấp lại vẫn đủ diện tích 198 m2 , vẫn đúng với ranh giới đất mà gia đình ông Ngọ đã chỉ ở ngoài thực địa khi gia đình ông Ngọ bán cho gia đình bà Uyên đồng thời vẫn phù hợp với bản vẽ quy hoạch đã được phê duyệt. Trả lại phần đất mà gia đình tôi đã mua hợp pháp của gia đình ông Ngọ.

- Ngày 8/11/2013 Tòa án thành phố Thái Nguyên đã tổ chức phiên đối thoại.

Tại buổi đối thoại  này ý kiến của phòng TN&MT như sau:

-1: Việc mua bán chuyển nhượng  của tôi với gia đình ông Ngọ là vi phạm pháp luật nên tôi không có quyền gì trên mản đất đã mua của ông Ngọ.

2- Tại thời điểm ông Ngọ được cấp GCNQSD, thửa đất đã được UBND phường Trung Thành chỉnh lý tại tờ bản đồ địa chính số 22 thửa số 01 diện tích 198m2 có kích thước 12,5m x 15,84m và việc chính lý này đã được thực hiện theo đúng quy định.

Sau khi nghe ý kiến của phòng TN&MT, tôi đã có ý kiến như sau:

  1. Theo công văn số 485/CV-UB ngày 10/11/2000 của UBND thành phố Thái Nguyên thì UBND thành phố đề nghị UBND tỉnh cấp GCNQSDĐ cho ông Ngọ thuộc ô quy hoạch số 111+112, , thửa số 1 tờ bản đồ địa chính số 22 với diện tích 198 m2 và chiều dài của lô quy hoạch là 25m chứ không phải 12,5m; (với chiều dài 25m thì chỉ cần chiều rộng là 7,92m là đủ 198m2.
  2. Văn của bản UBND phường không có chỗ nào đề nghị chỉnh lý ô đất cấp cho ông Ngọ có kích thước 12,5m x 15,84m .
  3. UBND phường không có thẩm quyền chỉnh lý thửa đất trái với quy hoạch đã được Giám đốc Sở Xây dựng duyệt, trái với công văn số 485/CV-UB ngày 10/11/2000 của UBND thành phố Thái Nguyên.
  4. Thực tế cho thấy tất cả các hộ dân trong khu dân cư đồi độc lập đều được cấp GCNQSDĐ theo đúng kích thước của ô quy hoạch và tâm đường hiện tại ở thực địa không phải là tâm đường quy hoạch; như vậy tại sao tất cả các hộ được cấp bìa tại thời điểm đó không được chỉnh lý bản đồ mà duy nhất hộ gia đình ông Ngọ lại được chỉnh lý trái với quy hoạch đã được phê duyệt và diện tích chỉnh lý còn vượt cả ra ngoài bản đồ quy hoạch được duyệt, cụ thể ô số 111 và 112 có tổng chiều rộng tối đa là 14m trong khi đó lại chỉnh lý rộng ra tới 15,84m.

5- Theo tôi thì việc chỉnh lý thửa đất của ông Ngọ được cán bộ địa chính thực hiện vào thời điểm lập hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất từ ông Ngọ sang bà Uyên điều này được thể hiện rất rõ trong biên bản kiểm tra hiện trạng sử dụng đất do cán bộ địa chính lập.

Tổng đài luật sư trực tuyến gọi: 1900 6162.

(Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  - 1900 6162)

Nội dung  biên bản kiểm tra hiện trạng sử dụng đất ghi  rõ:

Về nguồn gốc, hiện trạng sử dụng đất, quá trình quản lý và biến động:

Đất ở gia đình ông Phạm Thanh Ngọ có GCNQSDĐ Số 45768 cấp ngày 15 tháng 12 năm 2000, đất sử dụng ổn định, không lấn chiếm tranh chấp. Được thể hiện tại tờ BĐ ĐC số 22 thửa số 1, diện tích cấp GCNQSDĐ  là 198m2. Kiểm tra thực tế diện tích là 835m2. Hiện nay đang sử dụng nhiều hơn GCNQSDĐ  là 637m2 . Nguyên nhân là đất của gia đình quản lý là toàn bộ diện tích đất theo BĐ ĐC nhưng đến năm 2000 gia đình hợp thức nộp tiền sử dụng đất chỉ xin hợp thức 198m2. đất ở đô thị. Sau khi kiểm tra đã chỉnh lý BĐĐC đúng với diện tích được cấp GCNQSDĐ. Nay ông Ngọ chuyển toàn bộ diện tích 198m2 tại thửa số 01 cho bà Phạm Thị Uyên.

Như vậy trong biên bản này cán bộ địa chính phường đã nêu rõ đã nêu rất rõ là “Sau khi kiểm tra đã chỉnh lý BĐĐC đúng với diện tích được cấp GCNQSDĐ”.

Thực tế cho tấy tim đường theo bản vẽ quy hoạch không trùng với tim đường hiện tại, việc cán bộ địa chính không căn cứ vào kích thước các lô đất trong bản vẽ QH mà chỉ căn cứ vào tim đường hiện có và chiều rộng của đường quy hoạch để xác định chỉ giới cấp đất đã dẫn đến chiều sâu của lô đất của ông Ngọ chỉ còn có 12,5 m trong khi đó theo bản vẽ quy hoạch thì chiều sâu của lô đất là 25,0 m. Với cách xác định như trên của cán bộ địa chính thì toàn bộ các lô đất đã được cấp giấy CNQSDĐ thuộc các lô: từ lô số 190 đến lô 216,  lô 126 đến lô 139 … sẽ  bị cấp đất lấn sang chỉ giới quy hoạch đường từ 2 m đến 5 m.

Cụ thể gia đình bà Hồng, gia đình ông Diễn … được cấp giấy CNQSDĐ và ranh giới thửa đất chỉ cách tâm đường hiện tại khoảng 1,5m trong khi đường ở đây quy hoạch rộng 9m.

Như vậy, việc cỏn bộ địa chính phường làm hồ sơ chuyển QSDĐ cho gia đình bà Phạm Thị Uyên với diện tích 198 m 2 và trên hồ sơ cấp đất ghi kích thước thửa đất có chiều dài là 12,5 m, chiều rộng bám theo mặt đường là 15,84 m là không phù hợp với hiện trạng sử dụng đất, không phù hợp với bản vẽ quy hoạch chi tiết đã được duyệt, không phù hợp với hồ sơ gốc cấp đất cho gia đình ông Ngọ, trái với quy hoạch được duyệt và trái thẩm quyền.

Trên đây là toàn bộ diễn biến trong quá trình chuyển nhượng QSDĐ, sử dụng đất của gia đình tôi và việc giải quyết đơn của các cấp chính quyền địa phương.

Hiện nay tòa án thành phố Thái Nguyên đang giải quyết vụ án và phòng TN&MT thành phố là cơ quan được chủ tịch thành phố ủy quyền giải quyết vụ án có khuyên tôi nên rút đơn để phối hợp với gia đình ông Ngọ để gia đình ông Ngọ hoàn tất thủ tục cấp GCNQSD Đ đối với phần đất tôi đã mua mang tên ông Ngọ sau đó làm thủ tục chuyển nhượng sang tên tôi với lý do để lâu khi luật đất đai sử đổi thì phải nộp tiền sử dụng đất cao và có nguy cơ sẽ không được cấp GCNQSD Đ. Tôi rất mong nhận được sự tư vấn pháp lý của Công ty Luật Minh Khuê về các nội dung sau:

- Có nên tiếp tục theo vụ kiện này không (vì tôi đang lo là tòa sẽ tuyên là tôi không có quyền trên mảnh đất tôi đã mua của ông Ngọ nên tôi không có quyền khởi kiện quyết định hành chính), nếu tiếp tục theo kiện thì phải làm những gì để bảo vệ được quyền lợi.

- Có nên Xin rút đơn khởi kiện để viết đơn tố cáo việc lập hồ sơ chuyển nhượng không đúng của cán bộ địa chính phường không.

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê

Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Kính thư

Người gửi: Thanh Bằng

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê.

 

Trả lời:

 

Chào bạn, Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi đến công ty. Về vấn đề của bạn công ty xin giải đáp như sau:

Cơ sở pháp lý:

- Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003 

- Bộ luật hình sự năm 1999 ( sửa đổi, bổ sung năm 2009 )

Nội dung phân tích:

Trong trường hợp này, Có thể thấy rằng đã có sự sai lệch trong việc đăng ký đất đai và quản lý đất đai. Bạn đã thực hiện thủ tục khiếu nại tới cơ quan hành chính đã thực hiện giải quyết tranh chấp cho mình và vẫn chưa đồng ý với quyết định giải quyết này thì bạn cần thực hiện thủ tục khởi kiện vụ án hành chính theo quy định tại Luật tố tụng hành chính. Trong khi thực hiện thủ tục khởi kiện bạn cần cung cấp chứng cứ, tài liệu chứng minh cho vi phạm của quyết định hành chính bạn đang khởi kiện đồng thời cung cấp chứng cứ cho yêu cầu của mình là hoàn toàn hợp pháp để đảm bảo quyền lợi cho mình. 

Về việc đảm bảo quyền lợi khi tiếp tục  khởi kiện:

Thực hiện thủ tục khởi kiện là hoạt động nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của mình dựa trên cơ sở pháp lý, chứng cứ có được. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của mình bạn cần thu thập chứng cứ chứng minh cho hành vi sai trái của cơ quan nhà nước đang thực hiện việc giải quyết vụ việc này. Bạn cần đưa ra căn cứ pháp lý chứng minh cho việc mua bán hợp pháp của mình với Ông Ngọ.

Về việc tố cáo sai phạm trong vấn đề lập hồ sơ chuyển nhượng không đúng của cán bộ địa chính phường:

Bạn có thể thực hiện thủ tục tố cáo hành vi này kèm theo các chứng cứ tới cơ quan công an nơi đang cư trú.

Thủ tục tố cáo được quy định tại Điều 103 Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

" Điều 103. Nhiệm vụ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

1. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi tố do cơ quan nhà nước chuyển đến. Viện kiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

2. Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

Trong trường hợp sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá hai tháng.

3. Kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và thông báo cho cơ quan, tổ chức đã báo tin hoặc người đã tố giác tội phạm biết.

Cơ quan điều tra phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người đã tố giác tội phạm.

4. Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của Cơ quan điều tra đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố."

Mẫu đơn tố cáo bạn tham khảo TẠI ĐÂY

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn, xin đảm bảo tất cả những thông tin tư vấn hoàn toàn đúng theo tinh thần pháp luật. Chúng tôi rất mong nhận được hồi âm của bạn về vấn đề này và luôn sẵn sàng trao đổi những thông tin cần thiết. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty tư vấn của chúng tôi.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT ĐẤT ĐAI