Năm 2004 nhà nước có chính sách quy hoạch đất và cấp sổ bìa đỏ cho các hộ gia đình.

Năm 2005 nhà ông Nhạc (hàng xóm sát cạnh nhà tôi) được cấp sổ bìa đỏ trước và đã xây dựng lên khoảng đất trống đó. Nhà tôi vì chưa có sổ bìa đỏ nên không biết phần đất đó nhà ông Nhạc có được nhà nước cấp hay không nên để Nhà ông Nhạc xây dựng.

Năm 2006 nhà tôi được cấp sổ bìa đỏ bao gồm một căn nhà và khoảng đất đó với diện tích 5,3 x 17 = 90,1 m2, trong đó 4 x 17 = 68 m2 là diện tích nhà mà nhà tôi đang sử dụng và 1,3 x 17 = 22,1 m2 nhà tôi chưa được sử dụng mà gia đình ông Nhạc đang sử dụng (nay là phần đất đang tranh chấp).

Gia đình tôi đã nhiều lần làm đơn tới các cơ quan chức năng có thẩm quyền từ năm 2007 đến nay để giải quyết về việc tranh chấp quyền sử dụng đất và bảo vệ quyền lợi chính đáng cho gia đình tôi nhưng đến nay vẫn chưa thỏa đáng.

Đã qua nhiều lần hòa giải không thành công  tại UBND phường, UBND thành phố, vụ kiện được Tòa án nhân dân các cấp thụ lý và giải quyết. Tại tòa án nhà tôi đã chứng minh được khoảng đất đó trước đây bà Vân sử dụng làm cây hương và trồng chuối, bà Vân đã kí xác nhận và tổ trưởng dân số đã kí và chứng thực. Nhưng thực tế gia đình tôi như lòng vòng mãi từ hòa giải tại UBND phường đến tòa án nhân dân, và bây giờ lại quay lại hòa giải tại UBND phường, ép nhà tôi nhượng bán phần đất đó. Gia đình tôi đã làm đơn không đồng ý nhượng bán, nhưng UBND phường và UBND thành phố đến nay vẫn chưa giải phóng mặt bằng và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của gia đình tôi. Gia đình tôi thực sự khó hiểu và không biết nên giải quyết như thế nào?

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê.

Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Kính thư                                         

Người gửi: Lê 

>> Luật sư tư vấn luật Đất đai qua điện thoại gọi số:   1900 6162

Tư vấn về giải phóng mặt bằng ?

Tư vấn tranh chấp đất đai trực tuyến

Trả lời:

Chào bạn, cám ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Hiện nay, tranh chấp đất đai là một vấn đề diễn ra rất phổ biến, tuy nhiên tranh chấp này cũng rất phức tạp, khó khăn trong cách giải quyết. Trường hợp tranh chấp của bạn, Điều 203 luật đất đai 2013 quy định rõ về thẩm quyền giải quyết: 

Điều 203. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.

Theo thông tin bạn cung cấp thì trường hợp của bạn đã được tòa án nhân dân giải quyết, vì vậy từ khi có quyết định hay bản án của Tòa án nhân dân có hiệu lực, bạn không kháng cáo và nếu như bên kia không thực hiện đúng theo quyết định/ bản án đó thì bạn có thể yêu cầu bên thi hành án cưỡng chế thực hiện. 

Trong quá trình giải quyết, bạn không đồng ý với quyết định giải quyết của Ủy ban nhân dân thì có quyền khiếu nại đến Bộ trường Bộ Tài nguyên môi trường.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê