Năm 1995, bố tôi bán 150m vuông đất và 22m vuông cổng đất giáp với một hộ liền kề cho một gia đình. Nhưng gia đình đó không mua ở giáp mương tiêu nên bố tôi để lại 1 phần đất của nhà tôi và phần đất đã tôn tạo rồi mới đo cho người mua. Sau đó có bán đất cho 4 hộ nữa, nay bố tôi đã mất để lại cho tôi 1 ngôi nhà và ít sân vườn, tôi vẫn đóng thuế đầy đủ mấy trăm mét vuông đất nhưng lúc làm sổ đỏ, chỉ có 87m vuông. Từ đó tôi đóng thuế 87m vuông theo giấy của thị trấn.

Hiện nay gia đình mua đất 150 m vuông và 22 m vuông ngõ xây hết cả phần đất mà trước kia không mua là khoảng 16 m vuông giáp mương, nay thành đường khu căn hộ liền kề. Vậy tôi hỏi gia đình tôi có quyền lợi như nào đối với 16 m vuông đất mà gia đình đã tôn tạo và đóng thuế ? Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: L.S.Đ

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật đất đai của Công ty luật Minh Khuê,

Tư vấn thủ tục thành lập

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900 6162

Trả lời:

Kính thưa Quý khách hàng, Công ty TNHH Luật Minh Khuê đã nhận được yêu cầu của Quý khách. Vấn đề của Quý khách chúng tôi xin giải đáp như sau:

 

Cơ sở pháp lý:

Luật đất đai 2013

Nội dung phân tích:

- Theo điều 101 luật đất đai 2013 quy định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất:

Điều 101. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

- Theo khoản 1 điều 12 luật đất đai 2013 quy định những hành vi bị nghiêm cấm

"Điều 12. Những hành vi bị nghiêm cấm
1. Lấn, chiếm, hủy hoại đất đai."

- Theo quy định tại khoản 5 điều 202 luật đất đai 2013 quy định hòa giải tranh chấp đất đai:

"Điều 202. Hòa giải tranh chấp đất đai

5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.

Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất."

Trước hết việc năm 1971 do lụt lội, là đất ruộng thấp , nên gia đình bạn kè mương đắp bờ tôn tạo đất và trồng cây và có nộp thuế đầy đủ tất cả phần đất đã tu tạo theo giấy tờ của xã nay là thị trấn. Thì theo quy định tại khoản 2 điều 101 luật đất đai 2013 thì việc tu tạo này có đóng thuế, sử dụng ổn định, không có tranh chấp sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Theo đó việc gia đình kia đã mua 150 m vuông đất và 22 m vuông ngõ xây hết cả phần đất mà trước kia không mua là khoảng 16 m vuông giáp mương là trái với quy định của pháp luật và xấm phạm đến quyền và lợi ích về đất đai của gia đình bạn theo quy định tại điều 12 luật đất đai 2013.

Theo đó gia đình kia đã xây hết cả phần đất mà trước kia không mua là 16m vuông giáp mương thì 2 bên có thể thỏa thuận với nhau về mức chi phí bồi thường trong trường hợp này. Nếu không thể thỏa thuận với nhau về mức giá bồi thường thì có thể lấy mức giá đất tại thời điểm đó theo quy định của UBND cấp tỉnh làm căn cứ bồi thường.
 
Nếu không thể thỏa thuận thì bạn có thể gửi đơn đến UBND xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải. Chủ tịch UBND xã có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan, tổ chức khác theo quy định để tiến hành hòa giải. Việc hòa giải phải lập thành biên bản và nếu sau khi hòa giải thành có sự thay đối về ranh giới thì thực hiện theo quy định tại khoản 5, điều 202 Luật đất đai 2013

Trong trường hợp, tranh chấp được giải quyết tại Tòa án (hòa giải cấp xã không thành) thì Tòa án sẽ căn cứ vào thực trạng sử dụng đất, mục đích sử dụng đất của 2 bên để ra quyết định.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về, luật thuế và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật đất đai qua Email  hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900 6162.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật đất đai.