1. Tư vấn về thu hồi đất, bồi thường đất và thủ tục khiếu nại ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Tôi có trường hợp thu hồi đất trong thời gian của luật đất đai 2013 mong công ty tư vấn :

1. Nhà nước ký duyệt phương án bồi thường hỗ trợ tđc trong khi người bị thu hồi đất chưa ký chấp nhận giá bồi thường .Vậy việc ký duyệt phương án này là đúng hay sai theo luật đất đai 2013?

2. Việc nhà nước tự lên phương án, phê duyệt phương án trong khi người có đất bị thu hồi cho rằng giá đền bù chưa phù hợp ,chưa ký. Nhưng nhà nước đã ban hành quyết định cưỡng chế theo luật đất đai 2013 là đúng hay sai?

3. Người có đất thu hồi chưa chấp nhận giá đền bù,chưa ký chấp nhận giá, nhưng nhà nước vẫn gởi thông báo,quyết định phê duyệt phương án đền bù, người dân khiếu nại thời gian 3-4 tháng vẫn không có quyết định giải quyết khiếu nại .Việc này theo luật khiếu nai 2011 là đúng hay sai, nếu sai thì cơ quan hoặc người bị khiếu nại sẽ như thế nào?

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: T.L

Tư vấn về thu hồi đất, bồi thường đất và thủ tục khiếu nại ?

Chào bạn. Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho Luật Minh Khuê. Chúng tôi xin giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

1. Nhà nước ký duyệt phương án bồi thường hỗ trợ đất trong khi người bị thu hồi đất chưa ký chấp nhận giá bồi thường .Vậy việc ký duyệt phương án này là đúng hay sai theo luật đất đai 2013?

Căn cứ điều 74 Luật đất đai 2013.

"Điều 74. Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất

1. Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường.

2. Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.

3. Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật."

Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý nên khi có quyết định thu hồi đất phục vụ cho bất cứ mục đích nào phù hợp với quy định của pháp luật thì cá nhân đang là chủ sở hữu quyền sử dụng đất có nghĩa vụ bàn giao lại đất và nhận được bồi thường về đất nếu thuộc trường hợp được bồi thường đất. Theo Điều 74 Luật đất đai 2013 việc bồi thường đất sẽ được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do ủy ban nhân dân tỉnh quyết định tại thời điểm thu hồi đất, như vậy với trường hợp của bạn nếu nhà nước đã ký duyệt phương án bồi thường hỗ trợ đất theo đúng trình tự thủ tục của pháp luật, giá bồi thường đúng theo giá đất của loại đất cụ thể được ủy ban nhân dân tỉnh quyết định thì việc ký duyệt phương án bồi thường khi người bị thu hồi đất chưa kí giá bồi thường là đúng theo quy định của pháp luật.

2. Việc nhà nước tự lên phương án, phê duyệt phương án trong khi người có đất bị thu hồi cho rằng giá đền bù chưa phù hợp ,chưa lý. Nhưng nhà nước đã ban hành quyết định cưỡng chế theo luật đất đai 2013 là đúng hay sai?

Như đã phân tích ở khi có quyết định thu hồi đất phục vụ cho bất cứ mục đích nào phù hợp với quy định của pháp luât thì cá nhân đang là chủ sở hữu quyền sử dụng đất có nghĩa vụ bàn giao lại đất và nhận tiền bồi thường theo đúng giá đất của loại đất bị thu hồi. Như vậy nếu giá bồi thường đất mà ủy ban nhân dân phê duyệt đúng với giá đất của tỉnh và chính quyền địa phương đã thực hiện đúng các quy trình thủ tục thu hồi bồi thường hỗ trợ tái định cư cho người dân thì kể cả khi người có đất bị thu hồi cho rằng giá đền bù chưa hợp lý không chịu nhận tiền nếu có đủ các điều kiện theo Điều 71 LĐĐ thì cơ quan có thẩm quyền có quyền ban hành quyết định cưỡng chế đất. Giá đất với mỗi địa phương là khác nhau do bạn chưa cung cấp thông tin về nơi bạn thường trú nên chúng tôi chưa thể cung cấp bảng giá đất chính xác cho bạn được.

Quy trình, thủ tục thu hồi, bồi thường, hỗ trợ tái định cư của cơ quan nhà nước như sau được quy định cụ thể tại nghị định 47/2014/NĐ-CP. Do bạn chưa cung cấp thông tin cụ thể về đất bị thu hồi là đất gì và mục đích vủa việc thu hồi là gì nơi bạn thường trú là ở đâu nên bạn có thể tham khảo thêm các quy định chi tiết trong Nghị định số 47/2014/NĐ-CP quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

"Điều 71. Cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất

1. Nguyên tắc cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 70 của Luật này.

2. Cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người có đất thu hồi không chấp hành quyết định thu hồi đất sau khi Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng đã vận động, thuyết phục;

b) Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất đã được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi;

c) Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất đã có hiệu lực thi hành;

d) Người bị cưỡng chế đã nhận được quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất có hiệu lực thi hành.

Trường hợp người bị cưỡng chế từ chối không nhận quyết định cưỡng chế hoặc vắng mặt khi giao quyết định cưỡng chế thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất và tổ chức thực hiện quyết định cưỡng chế.

4. Trình tự, thủ tục thực hiện cưỡng chế thu hồi đất:

a) Trước khi tiến hành cưỡng chế, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thành lập Ban thực hiện cưỡng chế;

b) Ban thực hiện cưỡng chế vận động, thuyết phục, đối thoại với người bị cưỡng chế; nếu người bị cưỡng chế chấp hành thì Ban thực hiện cưỡng chế lập biên bản ghi nhận sự chấp hành. Việc bàn giao đất được thực hiện chậm nhất sau 30 ngày kể từ ngày lập biên bản.

Trường hợp người bị cưỡng chế không chấp hành quyết định cưỡng chế thì Ban thực hiện cưỡng chế tổ chức thực hiện cưỡng chế;

c) Ban thực hiện cưỡng chế có quyền buộc người bị cưỡng chế và những người có liên quan phải ra khỏi khu đất cưỡng chế, tự chuyển tài sản ra khỏi khu đất cưỡng chế; nếu không thực hiện thì Ban thực hiện cưỡng chế có trách nhiệm di chuyển người bị cưỡng chế và người có liên quan cùng tài sản ra khỏi khu đất cưỡng chế.

Trường hợp người bị cưỡng chế từ chối nhận tài sản thì Ban thực hiện cưỡng chế phải lập biên bản, tổ chức thực hiện bảo quản tài sản theo quy định của pháp luật và thông báo cho người có tài sản nhận lại tài sản.

5. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện quyết định cưỡng chế thu hồi đất:

a) Ủy ban nhân dân cấp huyện chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện việc cưỡng chế, giải quyết khiếu nại liên quan đến việc cưỡng chế theo quy định của pháp luật về khiếu nại; thực hiện phương án tái định cư trước khi thực hiện cưỡng chế; bảo đảm điều kiện, phương tiện cần thiết phục vụ cho việc cưỡng chế; bố trí kinh phí cưỡng chế thu hồi đất;

b) Ban thực hiện cưỡng chế có trách nhiệm chủ trì lập phương án cưỡng chế và dự toán kinh phí cho hoạt động cưỡng chế trình Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền phê duyệt; thực hiện cưỡng chế theo phương án đã được phê duyệt; bàn giao đất cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng;

Trường hợp trên đất thu hồi có tài sản thì Ban thực hiện cưỡng chế phải bảo quản tài sản; chi phí bảo quản tài sản đó do chủ sở hữu chịu trách nhiệm thanh toán;

c) Lực lượng Công an có trách nhiệm bảo vệ trật tự, an toàn trong quá trình tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất;

d) Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, đơn vị có liên quan tổ chức thực hiện việc giao, niêm yết công khai quyết định cưỡng chế thu hồi đất; tham gia thực hiện cưỡng chế; phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng niêm phong, di chuyển tài sản của người bị cưỡng chế thu hồi đất;

đ) Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan chịu trách nhiệm phối hợp với Ban thực hiện cưỡng chế thực hiện việc cưỡng chế thu hồi đất khi Ban thực hiện cưỡng chế có yêu cầu;

6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này."

3. Người có đất thu hồi chưa chấp nhận giá đền bù,chưa ký chấp nhận giá, nhưng nhà nước vẫn gởi thông báo,quyết định phê duyệt phương án đền bù, người dân khiếu nại thời gian 3-4 tháng vẫn không có quyết định giải quyết khiếu nại .Việc này theo luật khiếu nai 2011 là đúng hay sai, nếu sai thì cơ quan hoặc người bị khiếu nại sẽ như thế nào?

Căn cứ theo luật khiếu nại 2011:

"Điều 27. Thụ lý giải quyết khiếu nại

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại thuộc thẩm quyền mà không thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Điều 11 của Luật này, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu phải thụ lý giải quyết; thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chuyển khiếu nại đến và cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp biết, trường hợp không thụ lý giải quyết thì phải nêu rõ lý do."

"Điều 28. Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu

Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý.

Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý."

Như vậy trong thời hạn 3-4 tháng mà cơ quan nhà nước bị khiếu nại không có quyết định giải quyết việc khiếu nại, theo Điều 27.28 Luật khiếu nại 2011 điều này là chưa đúng với quy định của luật khiếu nại 2011. Đồng thời hành vi không giải quyết khiếu nại là một trong các hành vi bị nghiêm cấm theo Điều 6 Luật khiếu nại và bị xử lý hành vi vi phạm theo Điều 67 luật khiếu nại.

"Điều 6. Các hành vi bị nghiêm cấm

1. Cản trở, gây phiền hà cho người thực hiện quyền khiếu nại; đe doạ, trả thù, trù dập người khiếu nại.

2. Thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết khiếu nại; không giải quyết khiếu nại; làm sai lệch thông tin, tài liệu, hồ sơ vụ việc khiếu nại; cố ý giải quyết khiếu nại trái pháp luật."

"Điều 67. Xử lý hành vi vi phạm pháp luật của người giải quyết khiếu nại

Người giải quyết khiếu nại có một trong các hành vi quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 6 của Luật này hoặc vi phạm các quy định khác của pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường hoặc bồi hoàn theo quy định của pháp luật."

Trân trọng./.

2. Tư vấn việc thu hồi đất trái pháp luật và thủ tục khiếu nại, tố cáo ?

Kính chào luật Minh Khê, Cho Em hỏi 1 vấn đề này ạ: Hộ gia đình ông Kiên năm1989 được UBND huyện cấp đất ở,diện tích là 200m2 sát đường quốc lộ. Việc giao đất thực địa do UBND xã thực hiện nhưng không có giấy tờ thể hiện mốc giới cách mép đường là bao nhiêu ?

Hiện nay đo sát mép đường vẫn là 200m2, nay UBND huyện thu hồi 30m2 để mở rộng đường nhưng không bồi thường,không có quyết định thu hồi đất vì cho rằng phần đất bị thu hồi nằm trong hàng lang an toàn giao thông. Hộ ông Kiên không đồng ý và không thực hiện yêu cầu trả đất cho hội đồng giải phóng mặt bằng. UBND huyện tổ chức cưỡng chế (không có quyết định cưỡng chế) Hỏi:1.UBND huyện có hành vi hành chính nào khi thực hiện nhiệm vụ thu hồi đất trái pháp luật?

2. Hộ ông kiên không được bồi thường đúng hay sai? tại sao?

3.Việc cưỡng chế thu hồi đất của UBND huyện đúng hay sai?tại sao?

4. Ông kiên có quyền khiếu nại, khởi kiện không và theo quy định tại văn bản nào của pháp luật? Xin luật sư giải đáp thắc mắc.

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Thu hồi đất trái pháp luật

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi cho chúng tôi. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Thứ nhất, theo Luật Tố tụng hành chính số 64/2010/QH12 của Quốc hội( điều 3 khoản 2 ), hành vi hành chính được hiểu là

2. Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

Trong tình huống trên, hành vi hành chính của UBND huyện là hành vi tổ chức cưỡng chế việc thi hành quyết định thu hồi đất của ông Kiên.

Thứ hai, để xác định hộ ông Kiên có được bồi thường khi bị thu hồi đất hay không cần căn cứ vào quy định của luật đất đai về điều kiện được bồi thường khi bị thu hồi đất và căn cứ vào việc diện tích đất của ông Kiên không thay đổi kể từ ngày được giao đất cho đến nay.

Điều 75. Điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.[...]

Theo đó, nếu hộ ông Kiên đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc các giấy tờ nêu trên thì được bồi thường khi bị UBND huyện ra quyết định thu hồi đất, mức bồi thường được tính căn cứ vào diện tích đất bị thu hồi là 30m2.

Thứ ba, về việc cưỡng chế thu hồi đất.

Trường hợp người có đất thu hồi đã được vận động, thuyết phục nhưng không chấp hành việc bàn giao đất cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất và tổ chức thực hiện việc cưỡng chế theo quy định tại Điều 71 của Luật đất đai số 45/2013/QH13 của Quốc hội.

Điều 71. Cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất

Việc cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất được quy định như sau:

1. Về nguyên tắc cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất

a) Việc cưỡng chế phải tiến hành công khai, dân chủ, khách quan, bảo đảm trật tự, an toàn, đúng quy định của pháp luật;

b) Thời điểm bắt đầu tiến hành cưỡng chế được thực hiện trong giờ hành chính.

2. Cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người có đất thu hồi không chấp hành quyết định thu hồi đất sau khi Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng đã vận động, thuyết phục;

b) Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất đã được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi;

c) Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất đã có hiệu lực thi hành;

d) Người bị cưỡng chế đã nhận được quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất có hiệu lực thi hành.

Trường hợp người bị cưỡng chế từ chối không nhận quyết định cưỡng chế hoặc vắng mặt khi giao quyết định cưỡng chế thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất và tổ chức thực hiện quyết định cưỡng chế.

Căn cứ vào điều luật trên cho thấy, UBND huyện thực hiện cưỡng chế thu hồi đất là không hợp lý vì trước đó, UBND huyện không có quyết định bồi thường cho hộ ông Kiên khi thu hồi đất, hơn nữa, UBND cấp xã nơi có đất cũng không thực hiện việc thuyết phục, vận động trước khi UBND huyện áp dụng biện pháp cưỡng chế.

Thứ tư, vì hành vi hành chính của UBND cấp huyện về việc cưỡng chế thu hồi đất là trái pháp luật nên ông Kiên có quyền khởi kiện hành vi hành chính này tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có đất. Về vấn đề khởi kiện vụ án hành chính, bạn tham khảo tại Chương VIII luật Tố tụng hành chính 2010.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật đất đai qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẳn sàng giải đáp. Trân trọng.

3. Khiếu nại khi UBND huyện không hỗ trợ đời sống người bị thu hồi đất ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Năm 2014, Huyện tôi có dự án xây dựng chi cục thuế của Huyện nên đã thu hồi đất nông nghiệp của gia đình tôi. phần diện tích mà gia đình tôi bị thu hồi là trên 70% tổng diện tích đất nông nghiệp mà gia đình tôi đang sử dụng.

Vì vậy tôi có làm đơn gửi lên UBND cấp huyện đề nghị hỗ trợ ổn định đời sống theo nghị định 47/2014, nhưng đến nay đã được 3 tháng tôi chưa nhận được công văn trả lời. Vậy tôi có thể viết đơn khiếu nại không và nội dung khiếu nại thế nào?

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: H.N

Khiếu nại khi UBND huyện không hỗ trợ đời sống người bị thu hồi đất ?

Luật sư tư vấn luật đất đai gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn Công ty luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 19 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất về việc hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất khi Nhà nước thu hồi đất:

“3. Việc hỗ trợ ổn định đời sống cho các đối tượng quy định tại các Điểm a, b, c và d Khoản 1 Điều này thực hiện theo quy định sau:

a) Thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ trong thời gian 6 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 12 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 24 tháng.

Đối với trường hợp thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ trong thời gian 12 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 24 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 36 tháng;

b) Diện tích đất thu hồi quy định tại Điểm a Khoản này được xác định theo từng quyết định thu hồi đất của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền;

c) Mức hỗ trợ cho một nhân khẩu quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản này được tính bằng tiền tương đương 30 kg gạo trong 01 tháng theo thời giá trung bình tại thời điểm hỗ trợ của địa phương.”

Phần diện tích mà gia đình bạn bị thu hồi là trên 70% tổng diện tích đất nông nghiệp mà gia đình đang sử dụng nên gia đình bạn sẽ được hỗ trợ trong thời gian 12 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 24 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 36 tháng.

Căn cứ vào Điều 204 Luật đất đai năm 2013 về giải quyết khiếu nại, khiếu kiện về đất đai:

“Điều 204: Giải quyết khiếu nại, khiếu kiện về đất đai

1. Người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai.

2. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính”

Căn cứ vào Điều 33 Luật khiếu nại năm 2011 về khiếu nại lần hai hoặc khởi kiện vụ án hành chính:

“Điều 33. Khiếu nại lần hai hoặc khởi kiện vụ án hành chính

1. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại quy định tại Điều 28 của Luật này mà khiếu nại lần đầu không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai; đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày.

Trường hợp khiếu nại lần hai thì người khiếu nại phải gửi đơn kèm theo quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, các tài liệu có liên quan cho người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai.

2. Hết thời hạn giải quyết khiếu nại quy định tại Điều 28 của Luật này mà khiếu nại lần đầu không được giải quyết hoặc người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.”

Căn cứ vào Điều 21 Luật khiếu nại năm 2011 về thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh:

“Điều 21. Thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

1. Giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình.

2. Giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Giám đốc sở và cấp tương đương đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết.

3. Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết khiếu nại giữa các cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình.”

Đối với trường hợp của bạn, bạn đã gửi đơn lên UBND cấp huyện đề nghị hỗ trợ ổn định đời sống nhưng đã được 3 tháng mà chưa nhận được công văn trả lời, tức đã quá thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu. Do đó, bạn hoàn toàn có thể viết đơn khiếu nại lần hai lên chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để giải quyết vụ việc này.

Về nội dung đơn khiếu nại được quy định tại Điều 8 Luật khiếu nại năm 2011, cu thể:

“Điều 8. Hình thức khiếu nại

1. Việc khiếu nại được thực hiện bằng đơn khiếu nại hoặc khiếu nại trực tiếp.

2. Trường hợp khiếu nại được thực hiện bằng đơn thì trong đơn khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại; tên, địa chỉ của người khiếu nại; tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại và yêu cầu giải quyết của người khiếu nại. Đơn khiếu nại phải do người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ.

3. Trường hợp người khiếu nại đến khiếu nại trực tiếp thì người tiếp nhận khiếu nại hướng dẫn người khiếu nại viết đơn khiếu nại hoặc người tiếp nhận ghi lại việc khiếu nại bằng văn bản và yêu cầu người khiếu nại ký hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản, trong đó ghi rõ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều này.”

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn. Trân trọng./.

4. Giải quyết khiếu nại về thu hồi đất để hoang hóa ?

Chào luật sư, tôi có vấn đề mong luật sư giải đáp: Vào năm 2001, tôi có mua lại 2 sào đất trồng cây lâu năm tại xã Phan Điền, huyện Tuy Phong, mua bằng giấy mua bán viết tay không có xác nhận của địa phương. Từ lúc mua đến xảy ra tranh chấp, tôi không hề tác động trên đất, không có đăng ký kê khai và nộp thuế cho nhà nước.

Năm 2006, tôi có tranh chấp với ông X, được xã mời hòa giải, sau đó tôi khiếu nại tiếp được huyện (giải quyết tranh chấp lần đầu năm 2006) và tỉnh ra quyết định giải quyết lần cuối (năm 2008) đều bác đơn và không công nhận đất cho tôi cũng như ông X, lý do: Tôi và ông X đều không có quyền lợi hợp pháp liên quan đến phần đất đang tranh chấp, mua xong để hoang hóa và căn cứ khoản 11 Điều 38 thu hồi đất của Tôi giao cho xã quản lý. Đến 2009, lập thủ tục cho người khác thuê. Người thuê này từ lúc thuê đến nay đều ko tác động được trên đất vì tôi nhiều lần ngăn cản và hiện nay tôi cố tình cho người khác (bạn thân thiết) xây dựng căn nhà khoảng 200 m2 và bán quán phía trước. Hành vi này, Tôi bị xã xử phạt về hành vi XD trái phép trên đất người khác. Thực tế, Tôi mua đất này đầu tiên có nguồn gốc từ bà A khai hoang năm 78, bà A trồng hoa màu được 3 năm bỏ hoang, sau đó đến năm 89 bán cho ông D, ông D cũng mua bằng giấy viết tay không có xác nhận của chính quyền địa phương, sau khi mua xong ông D trồng hoa màu dược 2,3 năm bỏ hoang. Đến năm 2002, ông D mới sang nhượng giấy tay cho tôi…. Như vậy, cho Tôi hỏi:

-Việc giải quyết Khiếu nại của huyện và của tỉnh về việc thu hồi đất của Tôi theo Điều 38 Luật đất đai 2003 là đúng ko? Vì trên thực tế đất này là Tôi mua (mua trái phép và để hoang không sử dụng), không được giao mà sao áp dụng khoản 11 Điều 38 Luật đất đai 2003 ạ? Khoản 11 này thu hồi có phải thuộc trường hợp giao đất không? Và việc huyện và tỉnh bác đơn không công nhận cho tôi có đúng không?

- Việc giải quyết tranh chấp không công nhận cho Tôi giao cho xã quản lý và sau đó năm 2009 cho 1 người khác thuê nhưng không ban hành quyết định thu hồi đất đối với tôi là đúng hay sai?

Xin cảm ơn Luật sư!

Giải quyết khiếu nại về thu hồi đất để hoang hóa ?

Luật sư tư vấn Luật đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Về quyết định thu hồi đất và việc bác đơn không công nhận đất cho bạn:

Khoản 9, 11 Điều 38 Luật đất đai năm 2003 có quy định :

Điều 38. Các trường hợp thu hồi đất

"Nhà nước thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:....

9. Người sử dụng đất cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước;....

11. Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn mười hai tháng liền; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn mười tám tháng liền; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn hai mươi bốn tháng liền;"

Theo đó, bạn có hành vi là không kê khai và nộp thuế cho nhà nước và bỏ hoang đất trồng cây lâu năm trong thời hạn 18 tháng trở lên. Do đó thuộc các trường hợp bị thu hồi đất. Và việc thu hồi đất này không phụ thuộc vào đất bạn mua hay được giao.

Về việc không ban hành quyết định thu hồi đất nhưng lại cho người khác thuê đất:

Khi trường hợp của bạn thuộc căn cứ thu hồi tại Khoản 9,11 Điều 38 Luật đất đai năm 2013 thì nhà nước sẽ tiến hành thu hồi theo quy định của pháp luật:

Điều 44. Thẩm quyền thu hồi đất

1. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.

3. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không được uỷ quyền.

Điều 43. Những trường hợp thu hồi đất mà không bồi thường

1. Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất trong các trường hợp sau đây:

a) Thu hồi đất trong các trường hợp quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11 và 12 Điều 38 của Luật này;

b) Đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng; đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp; đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất giao thông, thuỷ lợi; đất xây dựng các công trình văn hoá, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao và các công trình công cộng khác không nhằm mục đích kinh doanh; đất làm nghĩa trang, nghĩa địa;

c) Đất nông nghiệp do cộng đồng dân cư sử dụng;

d) Đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất, tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước;

đ) Đất thuê của Nhà nước;

e) Trường hợp không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quy định tại Điều 50 của Luật này;

g) Đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn.

2. Khi Nhà nước thu hồi đất, người bị thu hồi đất không được bồi thường về tài sản gắn liền với đất trong các trường hợp sau đây:

a) Tài sản gắn liền với đất được tạo ra tại khu vực đất bị thu hồi sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được công bố mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép;

b) Tài sản gắn liền với đất được tạo ra trước khi có quyết định thu hồi đất mà trái với mục đích sử dụng đất đã được xác định trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại thời điểm xây dựng công trình đó;

c) Đất bị thu hồi thuộc các trường hợp quy định tại các khoản 4, 6, 7 và 10 Điều 38 của Luật này.

3. Người bị thu hồi đất quy định tại khoản 1 nhưng không thuộc khoản 2 Điều này được bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với đất bị thu hồi.

4. Chính phủ quy định việc xử lý đối với tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tài sản đã đầu tư trên đất trong trường hợp thu hồi đất quy định tại các khoản 2, 3, 5, 8, 9, 11 và 12 Điều 38 của Luật này.

Theo đó, Ủy ban nhân dân huyện sẽ tiến hành thủ tục thu hồi đất của bạn rồi mới được cho thuê lại, đồng thời việc thu hồi này bạn sẽ không được bồi thường cả về đất cũng như công trình xây dựng gắn liền với đất. Tuy nhiên, Ủy ban tỉnh lại không tiến hành thu hồi đất mà lại cho người khác thuê lại luôn mảnh đất nên đã sai về trình tự thủ tục. Do đó, ở thời điểm hiện tại, bạn có thể tiến hành khiếu nại việc này theo thủ tục khiếu nại quy định tại Luật đất đai 2013:

Điều 204: Giải quyết khiếu nại, tố cáo:

"1. Người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai.

2. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính."

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

5. Tư vấn về thời hiệu khiếu nại về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất ?

Thưa luật sư tôi có mảnh đất diện tích 1245 m2 theo giấy chứng nhận Qsdđ năm 2000 nhà nước thu hồi để bố trí khu trung tâm hành chính thị xã Đồng Xoài nhưng do ban giải toả đền bù làm sai quy trình nên không thông báo cho tôi biết để kê khai đất và tài sản trên đất. Khi tôi phát hiện ra và kiến nghị nhiều lần thì được bổ sung tiền đền bù nhà ở còn tiền đất và hoa màu đến nay vẫn chưa chi trả cho tôi vì cấp nhầm cho hộ khác chưa thu hồi được.

Từ năm 2010 đến nay do công việc bận và cũng vì gặp trực tiếp ông chủ tich ubnd thị xã nhiều lần ông cũng hứa sẽ giải quyết nhưng đến nay ông đã chuyển đi huyện khác nên tôi lại phải tiếp tuc gui đơn kiến nghị . Xin hỏi luật sư từ năm 2010 đến nay có còn thòi hiệu khiếu nại không? Theo quy đinh tại QĐ38 CỦA UBND tỉnh bình phước ngày 24/5/2001 quy định tại điểm 1 điểm 8 khoản 3.1điều 3 và khoản 2 điều 8. Đất có giấy cnqsdđ theo quy định của pháp luật, hộ gia đình có từ 5 nhân khẩu trở lên, có nhu cầu tách riêng, diện tích bị thu hồi ít nhất 400m2 thì được bố trí 02 lô tái định cư. Tại thời điểm thu hồi gia đình tôi có 11 nhân khẩu trong đó có 09 người lớn, 5 người đã trưởng thành có nhu cầu tách riêng để lập gia đình, đất có GCNQSDĐ Diện tích bị thu hồi 1.245m2. Xin hỏi luật sư như vậy gia đình tôi có đủ điều kiện cấp 02 lô đất tái định cư không? Rất mong nhận được sự tư vấn từ luật sư.

Tôi xin chân thành cám ơn!

Tư vấn về thời hiệu khiếu nại về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất ?

Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật đất đai, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Đối với trường hợp của bạn, việc thu hồi đất được thực hiện vào thời điểm năm 2000, đây là thời điểm Luật đất đai 1993 vẫn đang có hiệu lực pháp luật, do đó sẽ áp dụng Luật này để xác định. Theo đó Luật đất đai 1993 có quy định tại Điều 27 như sau:

“Trong trườnghợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất đểsử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộngthì người bị thu hồi đất được đền bù thiệt hại”.

Mặt khác tại Điều 28 Luật này cũng ghi nhận:

“Cơ quan Nhànước có thẩm quyền quyết định giao đất nào thì có quyền thu hồi đất đó.

Việc thu hồiđất để chuyển sang mục đích khác phải theo đúng quy hoạch và kế hoạch đã đượccơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.

Trước khi thu hồi đất phải thông báo cho người đang sử dụng biết về lý do thu hồi, thờigian, kế hoạch di chuyển, phương án đền bù thiệt hại.

Trong trườnghợp có nhu cầu khẩn cấp của chiến tranh, chống thiên tai hoặc trong tình trạngkhẩn cấp, thì việc trưng dụng đất do Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thànhphố thuộc tỉnh trở lên quyết định. Hết thời hạn trưng dụng, người sử dụng đất đượctrả lại đất và được đền bù thiệt hại do việc trưng dụng gây ra theo quy địnhcủa pháp luật”.

Như vậy việc cơ quan nhà nước thu hồi đất mà không thông báo để gia đình bạn biết để kê khai đất và tài sản trên đất là vi phạm pháp luật. Mặt khác việc cơ quan có thẩm quyền không bồi thường đầy đủ cho gia đình bạn theo quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cũng là hành vi trái pháp luật.

Như vậy khi có sai phạm này pháp luật ghi nhận bạn có quyền khởi kiện trong thời hạn nhất định. Cụ thể thời hạn này được xác định theo quy định tại

Điều 31 (Luật khiếu nại tố cáo 09/1998/QH10) như sau:

“Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được có hành vi hành chính.

Trong trường hợp vì ốm đau, thiên tai, địch hoạ, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu, thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại”.

Như vậy, trường hợp của bạn đến thời điểm hiện nay được xác định là đã hết thời hiệu khiếu nại.

Đối với vấn đề bạn hỏi: Theo quy đinh tại Quyết định số 38/2001/QĐ-UB của UBND tỉnh Bình Phước ngày 24/5/2001 quy định tại điểm 1, điểm 8 khoản 3.1điều 3 và khoản 2 điều 8. Đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, hộ gia đình có từ 5 nhân khẩu trở lên, có nhu cầu tách riêng, diện tích bị thu hồi ít nhất 400m2 thì được bố trí 02 lô tái định cư. Tại thời điểm thu hồi gia đình bạn có 11 nhân khẩu trong đó có 09 người lớn, 5 người đã trưởng thành có nhu cầu tách riêng để lập gia đình, đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Diện tích bị thu hồi 1.245m2. Vậy gia đình bạn có đủ điều kiện cấp 02 lô đất tái định cư không?

Theo như bạn đã nêu tại Quyết định số 38/2001/QĐ-UB của UBND tỉnh Bình Phước ghi nhận: “Hộ gia đình có từ 5 nhân khẩu trở lên có hộ khẩu tại địa điểm giải toả nhưng có diện tích đất giải tỏa ít nhất là 400m2 thực sự có nhu cầu tách hộ (đủ điều kiện tách hộ) thì được giao 2 lô tái định cư. Hộ gia đình có diện tích đất thu hồi từ 0,5ha trở lên, có ít nhân khẩu (từ 4 nhân khẩu trở xuống) thực sự có nhu cầu thì được giao thêm 01 lô tái định cư”. Như vậy trường hợp gia đình bạn nếu có hộ khẩu tại địa điểm giải tỏa có nhu cầu tách hộ thì sẽ được đủ điều kiện được giao 2 lô đất tái định cư theo quy định của pháp luật.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

6. Khiếu nại đối với việc cưỡng chế thu hồi đất của UBND xã ?

Kính gửi Quý Công Ty Luật Minh Khuê.Gia Đình Tôi muốn nhờ Quý Công Ty Luật tư vấn dùm. Nguyên nhân tại sao UBND Xã lại lấy mảnh đất của gia đình tôi ,cắt cho giao Thông đường bộ là hộ bà Trần Thị C. Trong khi đó diện tích đất 192m2 là đất gia đình tôi chuyển đổi từ hộ D về , 72m2 là đất mua hộ bà E về và 250m2 là đất dịch vụ.

Từ tháng 12 năm 1994 có chủ trương chuyển mục đích sử dụng đất từ dịch vụ sang đất thổ cư, Gia Đình tôi đã nộp tiền chuyển mục đích sử dụng đất đất thổ cư năm đó là 600.000đ (sáu trăm ngàn đồng chẵn). Và đã được UBND Xã công nhận nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Gia đình tôi đã nộp thuế đất từ năm 1995 đến 1998 có phiếu thu số 14 từ năm 1998 trở đề đây gia đình nộp thuế nhưng UBND Xã không thu nữa.UBND Xã lại đưa đội giao Thông đường bộ đến cưỡng chế gia đình tôi 2 lần. Gia đình tôi xây nhà năm 1995. UBND Xã lại cho là gia đình nhà tôi xây nhà trái phép. Cho dân quân, công an,trưởng công an xã, chủ tịch xã ,phó chủ tịch xã ,đến cưỡng chế đập phá 17 mét tường rào 264m2 đất trồng màu,gia đình tôi còn bức xúc hơn nữa khi trưởng công an xã đã chạy vào hòm đồ sửa xe của gia đình cầm búa vu khống gia đình tôi đánh người thi hành công vụ. Chồng tôi tên Hà Văn A bắt chồng tôi vào giam tại tù giam huyện 9 ngày sau đó toà xử án treo, gia đình tôi có giấy tờ của toà án năm đó và giấy tờ mua và chuyển nhượng đất và đất dịch vụ biên lai tiến thu thuế đất và biên lai cắt đất cùng một số giấy tờ kèm theo. Gia đình cũng đã gửi đơn lên huyện nhưng không được giải quyết ?

Kính mong Quý Công Ty tư vấn và chỉ giúp cho gia đình.Gia đình xin chân thành cảm ơn!

Khiếu nại đối với việc cưỡng chế thu hồi đất của UBND xã ?

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Tại điều 16 Luật đất đai số 45/2013/QH13 của Quốc hội quy định các trường hợp nhà nước tiến hành thu hồi đất như sau:

"Điều 16. Nhà nước quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất
1. Nhà nước quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:
a) Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng;
b) Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai;
c) Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người.
2. Nhà nước quyết định trưng dụng đất trong trường hợp thật cần thiết để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai.

Đối với trường hợp cưỡng chế thu hồi đất của xã bạn có thể thuộc một trong hai trường hợp:

- TH1: do có dự án cần thực hiện giải phóng mặt bằng mà gia đình bạn không hợp tác:

Theo những thông tin bạn trình bày thì hiện tại gia đình bạn đang bị cưỡng chế thu hồi đất và không hiểu tại sao lại thu hồi, rồi UBND Xã lại đưa đội giao Thông đường bộ đến cưỡng chế gia đình bạn 2 lần. Trường hợp này có thể là có dự án giao thông đường bộ,.. và địa phương bạn đang tiến hành thu hồi đất nhưng không biết gia đình bạn có được bồi thường thu hồi đất hay chưa. Gia đình bạn cần tìm hiểu thông tin xem ở địa phương mình đang có dự án nào đang tiến hành và phải thu hồi đất hay không. Nếu xã thu hồi đất mà chưa bồi thường cho gia đình bạn mà đã tiến hành cưỡng chế đập phá nhà để thu hồi thì việc thu hồi như vậy là trái pháp luật. Bạn cũng cần tìm hiểu lý do tại sao từ năm 1998 đến nay bạn nộp tiền sử dụng đất mà xã lại không thu nữa, có thể do gia đình bạn được miễn tiền sử dụng đất. Bạn có thể tham khảo điều 11 Nghị định 45/2014/NĐ-CP Quy định về tiền sử dụng đất Quy định về tiền sử dụng đất sau đây:

"Miễn tiền sử dụng đất trong những trường hợp sau đây:

1. Miễn tiền sử dụng đất trong hạn mức giao đất ở khi sử dụng đất để thực hiện chính sách nhà ở, đất ở đối với người có công với cách mạng thuộc đối tượng được miễn tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về người có công; hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng biên giới, hải đảo; sử dụng đất để xây dựng nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật về nhà ở; nhà ở cho người phải di dời do thiên tai.

Việc xác định hộ nghèo theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; việc xác định hộ gia đình hoặc cá nhân là đồng bào dân tộc thiểu số theo quy định của Chính phủ.

2. Miễn tiền sử dụng đất trong hạn mức giao đất ở khi cấp Giấy chứng nhận lần đầu đối với đất do chuyển mục đích sử dụng từ đất không phải là đất ở sang đất ở do tách hộ đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo tại các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi theo Danh mục các xã đặc biệt khó khăn do Thủ tướng Chính phủ quy định.

3. Miễn tiền sử dụng đất đối với diện tích đất được giao trong hạn mức giao đất ở cho các hộ dân làng chài, dân sống trên sông nước, đầm phá di chuyển đến định cư tại các khu, điểm tái định cư theo quy hoạch, kế hoạch và dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

4. Miễn tiền sử dụng đất đối với phần diện tích đất được giao trong hạn mức giao đất ở để bố trí tái định cư hoặc giao cho các hộ gia đình, cá nhân trong các cụm, tuyến dân cư vùng ngập lũ theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

5. Thủ tướng Chính phủ quyết định việc miễn tiền sử dụng đất đối với các trường hợp khác do Bộ trưởng Bộ Tài chính trình trên cơ sở đề xuất của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

6. Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể Điều này."

Hoặc đất đã đưa vào quy hoạch không cho phép người dân sử dụng đất nữa...

Khi thu hồi đất vì mục đích công cộng thì các cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành bồi thường về đất hoặc bằng tiền cho người dân. Nhưng để được bồi thường thì gia đình bạn phải đáp ứng các điều kiện để được bồi thường theo nguyên tắc, điều kiện bồi thường theo điều 74, khoản 1 điều 75 của Luật đất đai năm 2013 như sau:

"Điều 74. Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất
1. Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường.
2. Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.
3. Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật."

"Điều 75. Điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp."

Các trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quy định tại điều 100, 101 Luật đất đai 2013 như sau:

"Điều 100. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất
1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:
a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;
c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;
d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;
đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;
e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;
g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ.
2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và đất đó không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
3. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, văn bản công nhận kết quả hòa giải thành, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.
4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp Giấy chứng nhận thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.
5. Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ; đất nông nghiệp quy định tại khoản 3 Điều 131 của Luật này và đất đó không có tranh chấp, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất."

"Điều 101. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất
1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này."

Như vậy, nếu đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo 1 trong các quy định tại điều 100, 101 Luật đất đai 2013 thì gia đình bạn sẽ được bồi thường theo điều 79, 89 Luật đất đai 2013 như sau:

"Điều 79. Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở
1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam mà có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường như sau:
a) Trường hợp không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở; trường hợp không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở thì Nhà nước bồi thường bằng tiền;
b) Trường hợp còn đất ở, nhà ở trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở.
2. Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở phải di chuyển chỗ ở mà không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất.
3. Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang sử dụng đất để thực hiện dự án xây dựng nhà ở khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường về đất.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này."

"Điều 89. Bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng trên đất khi Nhà nước thu hồi đất
1. Đối với nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt gắn liền với đất của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi Nhà nước thu hồi đất phải tháo dỡ toàn bộ hoặc một phần mà phần còn lại không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì chủ sở hữu nhà ở, công trình đó được bồi thường bằng giá trị xây dựng mới của nhà ở, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương.
Trường hợp phần còn lại của nhà ở, công trình vẫn bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì bồi thường theo thiệt hại thực tế.
2. Đối với nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, khi Nhà nước thu hồi đất mà bị tháo dỡ toàn bộ hoặc một phần mà phần còn lại không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì được bồi thường thiệt hại theo quy định của Chính phủ.
3. Đối với công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội gắn liền với đất đang sử dụng không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì mức bồi thường tính bằng giá trị xây dựng mới của công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương theo quy định của pháp luật chuyên ngành."

Như vậy, nếu xã thu hồi đất không vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng (thu hồi do có dự án...) mà tự dưng ngang nhiên cưỡng chế thu hồi đất của người dân, bạn có thể khiếu nại quyết định của xã (tham khảo phần khiếu nại đối với trường hợp này ở dưới).

- TH2: do gia đình bạn sử dụng đất trái pháp luật:

Đó là các trường hợp sử dụng đất thuộc các hành vi bị nghiêm cấm theo điều 12 Luật đất đai 2013:

"Điều 12. Những hành vi bị nghiêm cấm
1. Lấn, chiếm, hủy hoại đất đai.
2. Vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố.
3. Không sử dụng đất, sử dụng đất không đúng mục đích.
4. Không thực hiện đúng quy định của pháp luật khi thực hiện quyền của người sử dụng đất.
5. Nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức đối với hộ gia đình, cá nhân theo quy định của Luật này.
6. Sử dụng đất, thực hiện giao dịch về quyền sử dụng đất mà không đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
7. Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước.
8. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái quy định về quản lý đất đai.
9. Không cung cấp hoặc cung cấp thông tin về đất đai không chính xác theo quy định của pháp luật.
10. Cản trở, gây khó khăn đối với việc thực hiện quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật."

Khi đã được bồi thường hoặc thu hồi do vi phạm pháp luật về đất đai mà gia đình bạn không tuân thủ việc thu hồi của xã thì sẽ bị cưỡng chế theo điều 71 Luật đất đai 2013.

Bạn cần tìm hiểu chính xác xem liệu vì vấn đề gì mà gia đình bị thu hồi đất để đảm bảo quyền lợi của mình.

Việc giải quyết khiếu nại, khiếu kiện về đất đai được quy định tại điều 204 Luật đất đai 2013 như sau:

"Điều 204. Giải quyết khiếu nại, khiếu kiện về đất đai

1. Người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai.

2. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính."

Khi UBND xã có những hành vi trái pháp luật, nếu giải phóng mặt bằng mà không bồi thường, thu hồi đất không đúng mục đích theo điều 16 Luật đất đai 2013 mà gia đình bạn đã khiếu nại lên UBND huyện mà không được giải quyết thì bạn có quyền khởi kiện tại Toà án nhân dân hoặc tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh. Trong trường hợp khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật đất đai qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh KHuê