Năm 1991 ông nội em mất, để lại duy chúc miệng trên phần đất ba em đứng tên là chia cho 9 người con (5 gái+ 4 trai) như nhau .Nhưng riêng ba em va người con thứ 9 ( là chú 9 em ) được thêm một phần nữa dùng đễ giổ ông bà. Ba em vẫn đứng tên phần đất 14000m2 đó đến năm 2008, ba em mất không để lại di chúc thừa kế tài sản. Thành viên trong gia định gồm mẹ và 4 chị em (4 gái). Cùng năm ba em mất , mẹ em chia cho cô chú em theo di chúc miệng ộng nội để lại. (Em xin nói thêm là lúc mẹ em chia cho cô chú em là chia theo hình thức tặng cho).Hiện tại mẹ em là người đứng tên trên sổ đỏ phần đất còn lại ông nội chia cho ba. Lúc ba mất mấy chị em thống nhất để nhất là cho mẹ. Hiện tại, mẹ em đang bán phần đất ông nội cho thêm để giổ giữ lại phần đất ông nội cho. (Lý do phần đất đó mẹ không làm được, bán để sửa nhà ). Nhưng người cô thứ 2 của em làm đơn thưa mẹ em với chính quyền xã là nhà em không có con trai, mẹ em bán phần đất hương quả (không bán phần đất của mẹ mà bán đất hươn hai em là xúc phạm mẹ eg quả đó). Nhờ chính quyền giải quyết chuyển phần đất đó qua cho chú chín em.Cô em là như vậy là đúng không ? Em có thể kiện lại côm không.Mấy chị em muốn bảo vệ mẹ thì phải làm sao. Mẹ em có thể sang tên bán đất cho người ta được hay không ? Vì mẹ em đã nhận đặt cọc tiền bán đất để sửa nhà rồi ? Em không biết pháp luật nhờ CT Luật Minh Khuê tư vấn cho em được rõ. Em xin chân thành cảm ơn! 

Người gửi: M.Q

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật đất đai của Công ty luật Minh Khuê.

Tư vấn về tranh chấp chia thừa kế đất đai trong gia đình?

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Kính chào bạn ! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi xin giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội​.

Nội dung phân tích:

Dựa trên thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi, chúng tôi xin tư vấn vấn đề của bạn như sau:

Thứ nhất, Phần đất hương quả.

Theo pháp luật trước đây, đất hương hỏa là một phần tài sản dùng để thờ cúng ông bà, tổ tiên. Người thừa hưởng không phải là chủ đất mà phải giữ gìn và khi mãn phần thì giao lại cho người thừa tự. Đất hương hỏa có đặc điểm không được chuyển dịch, không bị tiêu diệt thời hiệu…

Sau giải phóng, khái niệm đất hương hỏa được nhắc đến trong Thông tư 81 ngày 24-7-1982 của TAND tối cao hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế. Theo đó, đất đai (kể cả đất canh tác, đất ở, đất hương hỏa) không thuộc quyền sở hữu riêng của công dân nên không thể là di sản thừa kế…

Bộ luật Dân sự hiện hành chỉ quy định nếu người lập di chúc có để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho một người đã được chỉ định trong di chúc quản lý.

Thứ hai,  Năm 1991 ông nội bạn mất, để lại di chúc miệng trên phần đất ba bạn đứng tên là chia cho 9 người con (5 gái+ 4 trai) như nhau .Nhưng riêng ba bạn va người con thứ 9 ( là chú chín bạn ) được thêm một phần nữa dùng đễ giổ ông bà. Ba bạn vẫn đứng tên phần đất 14000m2 đó đến năm 2008, ba bạn mất không để lại di chúc thừa kế tài sản. Thành viên trong gia định gồm mẹ và 4 chị em (4 gái). Cùng năm ba bạn mất , mẹ bạn chia cho cô chú bạn theo di chúc miệng ộng nội để lại. .Hiện tại mẹ bạn là người đứng tên trên sổ đỏ phần đất còn lại ông nội chia cho ba. Lúc ba mất mấy chị em thống nhất để nhất là cho mẹ bạn Hiện tại, mẹ bạn đang bán phần đất ông nội cho thêm để giổ giữ lại phần đất ông nội cho.Người cô thứ 2 của bạn làm đơn thưa mẹ bạn với chính quyền xã là nhà bạn không có con trai, mẹ bạn bán phần đất hương quả (không bán phần đất của mẹ bạn mà bán đất hương quả đó). Nhờ chính quyền giải quyết chuyển phần đất đó qua cho chú chín bạn. 

Như vậy, với lý do cô bạn đưa ra rằng gia đình bạn không có con trai là không hợp lý vì nó không phụ thuộc vào di chúc của ông bạn. Hơn nưa lý do khác rằng mẹ bạn bán mảnh đất hương hỏa ông nội để lại theo di chúc cho bố bạn nhằm mục đích hương hỏa thì mẹ bạn không được phép bán vì phần đất này thuộc di sản dùng vào việc thờ cúng theo quy định tại Điều 670 BLDS 2005 quy định  Di sản dùng vào việc thờ cúng như sau:

" 1. Trong trường hợp người lập di chúc có để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho một người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thoả thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng.

Trong trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử một người quản lý di sản thờ cúng.

Trong trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật.

2. Trong trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng."

Như vậy, mẹ bạn đã không thực hiện đúng di chúc ông bạn để lại mà lại sang tên bán phần đất di sản dùng thờ cúng đó nên cô bạn có quyền gửi đơn lên chính quyền địa phương để đòi lại quyền quản lý đối với mảnh đất di sản thờ cúng này.

Bên cạnh đó, mẹ bạn không được phép sang tên bán phần đất hương quả đó trừ khi có sự đồng ý nhất trí của các bên trong quan hệ thừa kế liên quan này.

Thứ tư, Trong trường hợp bạn muốn khởi kiện cô bạn xúc phạm mẹ bạn thì bạn phải có chứng minh chứng cứ hành động của cô bạn xúc phạm đến danh dự nhân phẩm của mẹ bạn, gây tổn hai đến tinh thần của mẹ bạn thì mới đầy đủ cơ sở pháp lý cấu thành nên tội xúc phạm danh dự nhân phẩm người khác.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật đất đai qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẳn sàng giải đáp.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI.