Hai năm sau đột nhiên bà tôi đòi lại mảnh đất và tòa án đã kết luận thủ tục làm chưa đúng quy trình và buộc Ba tôi phải trả lại .Vậy việc tuyên án như vậy có dúng theo pháp luật và luật đát đai chưa ? Xin luật sư giải đáp giùm.

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: T.T.D

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật đất đai của Công ty luật Minh Khuê,

Tư vấn thủ tục thành lập

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  - 1900 6162

Trả lời:

Thưa quý khách hàng!

 

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự 2005 

Nội dung trả lời:

Vì thông tin bạn đưa ra không được chi tiết như việc Bà bạn đã ký (lăn tay) là những loại giấy tờ gì và thỏa thuận giữa Ba bạn và bà có lập thành văn bản (hợp đồng chuyển nhượng hay tặng cho) hay không cũng như việc tòa án kết luận không đúng quy trình ở điểm nào? Do đó, chúng tôi sẽ cung cấp cho bạn những thông tin để bạn tham khảo, đối chiếu như sau:

 Theo thông tin bạn cung cấp, giữa Bà và Ba của bạn đã có thỏa thuận về việc chuyển quyền sử dụng đất. Hình thức hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đã được quy định tại Khoản 2 Điều 689 Bộ luật Dân sự quy định: "Việc chuyển quyền sử dụng đất (trong đó có tặng cho quyền sử dụng đất) được thực hiện thông qua hợp đồng, và hợp đồng phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật."

Bên cạnh đó Điều 467 BLDS quy định:

 

Điều 467. Tặng cho bất động sản

1. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu.

2. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản.

Theo quy định của pháp luật hiện hành (Điều 467 Bộ luật dân sự 2005), khi hợp đồng chuyển nhượng/tặng cho quyền sử dụng đất giữa các bên đã có hiệu lực, bên nhận chuyển nhượng/nhận tặng cho đã hoàn thành thủ tục đăng ký sang tên theo quy định (được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) thì bên chuyển nhượng/tặng cho không có quyền đòi lại quyền sử dụng mảnh đất đó, trừ các trường hợp sau đây:

1. Trường hợp thứ nhất: Ông bà chứng minh được hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất cho Ba của bạn là hợp đồng vô hiệu.

* Các trường hợp giao dịch vô hiệu:

- Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 122 của Bộ luật Dân sự thì vô hiệu (Điều 127 Bộ luật Dân sự).

+ Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

+ Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

+ Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

+ Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.

- Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội (Điều 128 Bộ luật Dân sự)

- Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo (Điều 129 Bộ luật Dân sự)

- Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện (Điều 130 Bộ luật Dân sự)

- Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn (Điều 131 Bộ luật Dân sự)

- Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa (Điều 132 Bộ luật Dân sự)

- Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình (Điều 133 Bộ luật Dân sự).

- Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức (Điều 134 Bộ luật Dân sự).

* Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu (Điều 137 Bộ luật Dân sự): Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.

Như vậy, nếu chứng minh được hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất từ Bà sang Ba bạn thuộc một trong các trường hợp nêu trên thì Bà có quyền yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu. Nếu hợp đồng vô hiệu, Ba bạn phải trả lại Bà quyền sử dụng đất đã nhận.

2. Trường hợp thứ hai

Nếu khi chuyển quyền sử dụng đất sang cho ba bạn, ông bà đã lập hợp đồng tặng cho và thỏa mãn hai yếu tố:

(i) hợp đồng tặng cho này là hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện;

(ii) điều kiện tặng cho có thể là: ba bạn có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc bố mẹ khi về già hoặc điều kiện khác không được trái pháp luật, đạo đức xã hội...

Trong trường hợp này, có thể áp dụng quy định tại Điều 470 Bộ luật Dân sự về tặng cho tài sản có điều kiện như sau:

- Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ dân sự trước hoặc sau khi tặng cho. Ðiều kiện tặng cho không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.

- Trong trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện.

- Trong trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Theo quy định trên, nếu bà và ba bạn đã lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất có điều kiện như trên thì: khi ba bạn vi phạm điều kiện tặng cho (như: vi phạm nghĩa vụ chăm sóc nuôi dưỡng bố mẹ), Bà có quyền đòi lại tài sản đã tặng cho.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900 6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng!

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT DÂN SỰ ./.