Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật đất đai của Công ty luật Minh Khuê,

Tư vấn thủ tục thành lập

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chuyên mục tư vấn pháp luật của chúng tôi. Câu hỏi của bạn, Luật Minh Khuê xin trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ Luật dân sự năm 2005

Bộ Luật dân sự năm 2015

2. Nội dung trả lời:

Những thông tin bạn cung cấp không thể hiện rõ nội dung: mảnh đất được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu mang tên cá nhân bố mẹ bạn hay mang tên hộ gia đình bố mẹ bạn. Do vậy có hai trường hợp sẽ được đặt ra như sau:

-Trường hợp thứ nhất: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất  mang tên cá nhân bố mẹ bạn.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 219 bộ luật dân sự 2005 thì sở hữu chung của vợ chồng ( bố mẹ bạn) sẽ là hình thức sở hữu chung hợp nhất:

Điều 219. Sở hữu chung của vợ chồng  :

1. Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất.

Và theo quy định tại điều 219 khoản 3  Bộ luật dân sự 2005 thì chủ sở hữu chung hợp nhất (bố mẹ bạn ) sẽ có quyền thảo thuận, định đoạt đối với tài sản chung hợp nhất (mảnh đất của bố mẹ bạn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 2 vợ chồng) trong đó có quyền bán đất, chuyển nhượng đất mà không cần phải có sự đồng ý của các thành viên trong gia đình :

3. Vợ chồng cùng bàn bạc, thoả thuận hoặc uỷ quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

Như vậy, theo quy định trên thì  trường hợp này bố mẹ bạn sẽ có toàn quyền định đoạt  bán mảnh đất đó mà không cần có sự đồng ý của bất cứ thành viên nào khác trong gia đình là các con.

 -Trường hợp thứ hai: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất  mang tên “hộ ” (hộ của bố mẹ bạn bao gồm cả gia đình gồm bố mẹ và các con)

Như vậy, mảnh đất sẽ trở thành sở hữu chung của hộ gia đình bố mẹ bạn (gồm tất cả những thành viên trong hộ gia đình tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).

Hiện nay khi làm thủ tục định đoạt tài sản chung (cụ thể trường hợp này là mua bán đất ) của hộ gia đình tại cơ quan công chứng thì cần có sự đồng ý của tất cả các thành viên trong hộ gia đình đó. Trường hợp hộ gia đình có thành viên chưa thành niên, hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì cần có sự đồng ý của người giám hộ theo quy định tại khoản 3 Điều 68 Bộ luật Dân sự. Yêu cầu này được đặt ra nhằm đảm bảo an toàn cho văn bản công chứng cũng như đảm bảo quyền lợi cho tất cả các thành viên của hộ gia đình.

Như vậy, nếu như trường hợp gia đình bạn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo hình thức chứng nhận đối với hộ gia đình thì việc bán đất của bố mẹ bạn sẽ phải có sự đồng ý của bạn và em gái bạn.

Bạn nên xem cụ thể gia đình bạn thuộc trường hợp nào trong 2 trường hợp trên để có thể biết chính xác câu trả lời.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email hoặc qua Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến:  1900 6162

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê