Ba mẹ tôi có đi họp về tình hình giải tỏa và đền bù, bên cơ quan có nói rằng: Có 2 mức giá 400.000 đồng/m2 và 210.000 đồng/m2, họ giải thích: 

700m đầu tiên là tính 400.000 đồng/m2 (700m x 400.000=280.000.000 đồng).

Còn lại là tính với mức giá 210.000 đồng/m2 (1223m x 210.000 =256.830.000 đồng).

Những tài sản còn lại tính riêng, nhưng chưa nhắc đến. Vì họ chỉ mới đo đạc và họp nói như thế, chưa có tiền đền bù nhưng tôi thấy rất lạ vì chưa từng thấy có quy định nào như vậy. Chính quyền địa phương tính hai đơn giá như trên có đúng quy định của pháp luật không? Mong Luật sư giải đáp giúp tôi.

Xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Phạm Thị Thảo

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê

Tư vấn về việc đền bù đất?

Tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến: 1900 6162

Trả lời

Cơ sở pháp luật:

- Luật đất đai 2013;

- Nghị định số 44/2014/NĐ-CP quy định về giá đất;

- Nghị định số 104/2014/NĐ-CP quy định về khung giá đất.

Nội dung phân tích:

Theo như bạn trình bày, trên phần đất của gia đình bạn ngoài nhà ở ra còn có phần đất trồng cây hoa màu, mương nước, giếng, motor ( đây có thể gọi là đất vườn, ao). Vậy để xác định được mức đền bù mà gia đình bạn được đền bù, thì sẽ phải xác định diện tích đất ở đối với diện tích đất vườn, ao. Căn cứ Luật đất đai 2013:

“Điều 103. Xác định diện tích đất ở đối với trường hợp có vườn, ao

1. Đất vườn, ao của hộ gia đình, cá nhân được xác định là đất ở phải trong cùng một thửa đất đang có nhà ở.

2. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành trước ngày 18 tháng 12 năm 1980 và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật này thì diện tích đất ở được xác định theo giấy tờ đó.

Trường hợp trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật này chưa xác định rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được công nhận không phải nộp tiền sử dụng đất được xác định bằng không quá 05 lần hạn mức giao đất ở quy định tại khoản 2 Điều 143 và khoản 4 Điều 144 của Luật này.

3. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật này mà trong giấy tờ đó ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định theo giấy tờ đó.

4. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật này mà trong giấy tờ đó không ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định như sau:

a) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào điều kiện, tập quán tại địa phương quy định hạn mức công nhận đất ở cho mỗi hộ gia đình phù hợp với tập quán ở địa phương theo số lượng nhân khẩu trong hộ gia đình;

b) Trường hợp diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở tại địa phương thì diện tích đất ở được xác định bằng hạn mức công nhận đất ở tại địa phương;

c) Trường hợp diện tích thửa đất nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở tại địa phương thì diện tích đất ở được xác định là toàn bộ diện tích thửa đất.

5. Đối với trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật này mà đất đã sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì diện tích đất ở được xác định theo mức quy định tại khoản 4 Điều này; trường hợp đất đã sử dụng ổn định kể từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì diện tích đất ở được xác định theo mức đất ở giao cho mỗi hộ gia đình, cá nhân quy định tại khoản 2 Điều 143 và khoản 4 Điều 144 của Luật này.

6. Phần diện tích đất vườn, ao còn lại sau khi đã xác định diện tích đất ở theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 của Điều này thì được xác định sử dụng vào mục đích hiện trạng đang sử dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật này.

7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này”.

Dựa vào việc xác định các loại diện tích đất này, nếu đất vườn ao không được coi là đất ở. Thì nhà nước sẽ bồi thường cho gia đình bạn 2 giá đất khác nhau, đó là giá đất ở và giá đất nông nghiệp.

Việc bồi thường với mức giá như thế nào sẽ căn cứ vào bảng giá đất của UBND tỉnh Ninh Thuận ban hành 5 năm một lần. Bạn có thể tìm quyết định về giá đất trên địa bàn tỉnh trên webide của UBND tỉnh. Ngoài ra, khi ban hành bảng giá đất này thì UBND tỉnh Ninh Thuận sẽ phải căn cứ theo khung giá đất Chính Phủ ban hành. Để biết về khung giá đất hiện nay của Nhà Nước, bạn có thể tham khảo 2 văn bản sau đây:

+ Nghị định số 44/2014/NĐ-CP quy định về giá đất;

+ Nghị định số 104/2014/NĐ-CP quy định về khung giá đất.

Trân trọng cám ơn!

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai