Nay tôi và ông Nam muốn bán chuyển nhượng cho người khác thì xuất hiện 1 người phụ nữ nói là vợ ông Nam. Bà ấy nói chung với ông Nam cũng là chung với Bà ấy vì bà ấy là vợ và bà ấy không đồng ý bán mảnh đất trên. Do vậy văn phòng đăng ký quyền SDĐ không tiến hàng làm thủ tục chuyển nhượng được .

Tôi muốn hỏi là bà ta nói như vậy có đúng không ? Tôi có quyền lợi gì ?

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: N.H.N

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật đất đai của Công ty luật Minh Khuê,

Tư vấn thủ tục thành lập

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  - 1900 6162

Trả lời:

Nội dung trả lời

Đối với câu hỏi của bạn Công ty xin trả lời bạn như sau:

Căn cứ pháp lý.

Bộ luật dân sự 2005

Luật đất đai 2013

Luật hôn nhân và gia đình 2014

Nội dung trả lời.

Căn cứ điểm a khoản 3 điều 167 Luật đất đai 2013 quy định cụ thể như sau:

3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;"

Căn cứ điều 26 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau:

"Điều 26. Đại diện giữa vợ và chồng trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với tài sản chung nhưng chỉ ghi tên vợ hoặc chồng

1. Việc đại diện giữa vợ và chồng trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản chung có giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên vợ hoặc chồng được thực hiện theo quy định tại Điều 24 và Điều 25 của Luật này.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng có tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản tự mình xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch với người thứ ba trái với quy định về đại diện giữa vợ và chồng của Luật này thì giao dịch đó vô hiệu, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật mà người thứ ba ngay tình được bảo vệ quyền lợi."

Căn cứ vào khoản 1 điều 37 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định cụ thể:

"Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng

Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

Thứ nhất có thể khẳng định rằng việc mua bán, chuyển nhượng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là phải bằng văn bản và phải được công chứng tại văn phòng công chứng.

Thứ hai đối với vấn đề xuất hiện người thứ 3 và nói là vợ của ông Nam thì có đưa ra được chứng cứ gì chứng minh 2 người này là vợ chồng hợp pháp tức là sẽ có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Đối với trường hợp cụ thể của cần xác định thêm một số thông tin nữa là việc mua bán đất đầu tiên giữa hai người là có công chứng hay không nếu không có công chứng thì đương nhiên hợp đồng mua bán, chuyển nhượng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đầu tiên là vô hiệu.

Xem xét quan hệ hôn nhân giữa ông Nam và người đó có phải là vợ chồng hay không và nếu là vợ chồng thì việc xác lập quan mua bán đất đầu tiên giữa hai người là ông Nam và bạn người vợ này có biết hay không. Và nếu biết thì việc thỏa thuận giữa 2 người nay như thế nào.

Bạn vẫn có quyền và lợi ích hợp pháp trong quan hệ dân sự này nếu như bạn tuân thủ đúng quy định việc mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản và phải có công chứng.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về dân sự và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email lienhe@luatminhkhue.vn hoặc qua Tổng đài tư vấn 1900 6162.

Trân trọng!

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT DÂN SỰ