Mình xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: Thủy

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật đất đai của Công ty luật Minh Khuê,

Tư vấn thủ tục thành lập

Luật sư tư vấn đất đai gọi: 1900 6162

Trả lời:

Kính chào bạn Thủy, rất hân hạnh được trả lời câu hỏi của bạn.

Cơ sở pháp lý:

Luật Đất đai năm 2013.

Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai

Nội dung phân tích:

Thứ nhất, về vấn đề bố mẹ chồng bạn muốn sang tên quyền sử dụng đất cho chồng bạn (con trai út) có thể thực hiện theo 2 thủ tục: chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc tặng cho quyền sử dụng đất. Việc lựa chọn hình thức sang tên nào là phụ thuộc vào ý chí của bố mẹ chồng bạn và chồng của bạn. 

- Đối với hình thức chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng giữa bố mẹ chồng bạn và chồng của bạn là hợp đồng chuyển nhượng, hay nói cách khác là mua bán. Trong hợp đồng này các bên phải có sự thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho nhau.

- Đối với hình thức tặng cho quyền sử dụng đất, hợp đồng giữa bố mẹ chồng bạn và chồng của bạn là hợp đồng tặng cho. Khác với hợp đồng chuyển nhượng, trong hợp đồng tặng cho, nếu không có điều kiện tặng cho, các bên không phải thanh toán cho nhau.

Tuy nhiên, chúng tôi cũng lưu ý bạn, bố mẹ chồng bạn đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng bạn phải xác định rõ ràng, Giấy chứng nhận cấp cho bố mẹ chồng của bạn hay cấp cho hộ gia đình bố mẹ chồng của bạn. Nếu Giấy chứng nhận cấp cho bố mẹ chồng của bạn thì mảnh đất đó được xác định là tài sản của bố mẹ chồng bạn và bố mẹ chồng bạn có quyền định đoạt đối với mảnh đất đó. Nếu như Giấy chứng nhận cấp cho hộ gia đình bố mẹ chồng bạn thì việc bố mẹ chồng bạn muốn sang tên quyền sử dụng đất cho chồng bạn theo bất kỳ hình thức nào cũng cần phải có ý kiến của những người trong hộ gia đình, tức là những người có tên trong sổ hộ khẩu.

Về thủ tục, chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

- Bước 1: Các bên đến tại Văn phòng công chứng/Phòng công chứng lập hợp đồng chuyển nhượng/tặng cho quyền sử dụng đất.

- Bước 2: Thực hiện thủ tục sang tên quyền sử dụng đất.

Hồ sơ sang tên quyền sử dụng đất gồm có:

+ Hợp đồng chuyển nhượng/tặng cho quyền sử dụng đất đã công chứng.

+ Bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

+ Sơ đồ kỹ thuật thửa đất (nếu có).

+ Chứng minh thư nhân dân, sổ hổ khẩu của các bên. 

Hồ sơ này được nộp tại Văn phòng đăng ký đất đai/Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng tài nguyên và môi trường cấp huyện. Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi có đất. Bởi Luật Đất đai năm 2013 tại Điều 105 quy định như sau: 

"Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất:

2. Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.”

Trường hợp của bạn, thực hiện sang tên quyền sử dụng đất theo hình thức chuyển nhượng thì bố mẹ chồng của bạn phải chịu thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất động sản. Bởi theo quy định tại điểm d, khoản 5, Điều 3 Luật thuế thu nhập cá nhân 2007 quy định các khoản thu nhập khác ngoài việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở,.. nhận được từ chuyển nhượng bất động sản thuộc thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân. Mặt khác, bên nhận chuyển nhượng - tức chồng của bạn cũng phải chịu lệ phí trước bạ khi sang tên quyền sử dụng đất theo quy định tại Thông tư số 124/2011/TT-BTC về lệ phí trước bạ là 0,5%.

Nếu lựa chọn sang tên quyền sử dụng đất theo hình thức tặng cho thì các bên không phải chịu thuế thu nhập cá nhân và lệ phí trước bạ. Bởi: heo quy định tại Khoản 4, Điều 4 luật thuế thu nhập cá nhân 2007 thì thu nhập từ quà tặng là bất động sản giữa cha đẻ con đẻ thuộc thu nhập miễn thuế. Và theo quy định tại Điều 1 thông tư 34/2013/TT-BTC về sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư 124/2011/TT-BTC ngày 31/08/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn về lệ phí trước bạ quy định nhà, đất là quà tặng giữa cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ thì không thuộc trường hợp phải nộp lệ phí trước bạ.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn hoặc qua Tổng đài tư vấn1900 6162.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ.