Trên GCNQSDĐ thì 2 vợ chồng anh B cùng đứng tên, nhưng do có mâu thuẫn gia đình nên vợ anh B đến đòi lại GCNQSDĐ, chị nói là chồng chị bán chứ chị không bán và chị không có ký tên. Chị B có ý định kiện gia đình em.

Vậy em muốn hỏi là gia đình em có vi phạm gì không, và chị B có cơ sở kiện gia đình em không ?

Em xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: L.V.T

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật đất đai của Công ty luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn! cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới chuyen mục tư vấn pháp luật đất đai của công ty chúng tôi, chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

- Luật hôn nhân và gia đình 2014

- Bộ luật dân sự 2005.

- Luật đất đai 2013.

2. Nội dung tư vấn:

Trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên 2 vợ chồng anh B thì đây là tài sản chung của vợ chồng anh B theo quy định tại điều 33, 34, luật hôn nhân gia đình 2014. Khi đó, việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt  mảnh đất đó được quy đinh tại điều 35, luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

"Điều 35. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.

2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:

a) Bất động sản;

b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;

c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.

Như vậy, trường hợp này của bạn khi bạn mua đất mà không có thỏa thuận bằng văn bản của hai vợ chồng anh B chỉ có sự đồng ý của một mình anh B như vậy là không đúng quy định pháp luật. Hơn nữa, về hợp đồng mua bán chỉ là hợp đồng viết tay trong khi theo quy định tại khoản 3, điều 167, luật đất đai 2013 thì:

".....

3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;

b) Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên;

c) Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự;

d) Việc công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc chứng thực thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã."

Do đó, việc mua đất trên của bạn không hợp pháp cả về nội dung và hình thức của giao dịch. Khi đó,nếu chị B kiện ra tòa thì tòa án có thể tuyên bố giao dịch này vô hiệu và hai bên phải hoàn lại cho nhau những gì đã nhận: bạn sẽ phải trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và anh B sẽ phải hoàn lại tiền cho bạn.

Hơn nữa, theo quy đinh tại điều 258, bộ luật dân sự 2005 thì chị B hoàn toàn có quyền đòi lại phần đất thuộc quyền sở hữu của mình:" Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản, trừ trường hợp người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa."

Trên đây là toàn bộ phần tư vấn của chúng tôi cho thắc mắc của bạn, hi vọng sẽ giúp ích được cho bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng công ty chúng tôi!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê