Đến năm 2013 gia đình anh B được xét duyệt làm sổ đỏ, ngày 26/06/2013 vợ anh B mang sang nhà ông A đề nghị ký xác nhận diện tích đất liền kề nhưng khi kiểm tra gia đình ông A phát hiện sơ đồ đất đó đã lấn chiếm sang đất nhà ông A 2,4m2 và dài 14m kéo dài ra cổng. Gia đình ông A đã làm đơn đề nghị UBND xã giải quyết việc gia đình anh B làm giả hồ sơ để chiếm đoạt đất của gia đình ông A.

Ngày 11/07/2013 cán bộ địa chính xuống làm việc giữa gia đình ông A và gia đình anh B, cán bộ địa chính xác nhận sơ đồ đất mà vợ anh B đề nghị gia đình ông A ký là không có thật.  khi cán bộ địa chính hỏi mốc mà gia đình ông A đã xây tường có đúng không, gia đình anh B nói đúng, vậy gia đình ông A nối hai đầu mốc sau ngôi nhà cấp bốn đúng không và anh B nhất trí, nhưng khi cán bộ địa chính cùng bảo vệ ra căng dây thì vợ anh B ra giật giây và cản chở không cho cắm dây vào hai đầu mỏ và nói không giải quyết 2,4m2 như sơ đồ thì phải lùi vào 60 phân và rút giây, gây cản trở.

Khi cán bộ địa chính đi đo diện tích đất nhà ông A và nhà anh B thì cán bộ địa chính nói diện tích đất nhà ông A thừa và diện tích đất nhà anh B thiếu, gia đình ông A đề nghị cung cấp số liệu đất của hai gia đình, và căn cứ vào đâu để làm việc,  thì cán bộ địa chính không cung cấp và nói với gia đình ông A thích thì ông vào đây mà làm ??? Buổi làm việc hôm đó kết thúc và không lập biên bản làm việc, sau gần 2 tháng gia đình ông A đã nhiều lần làm đơn đề nghị UBND xã giải quyết nhưng chỉ nhận đươc câu trả lời là sẽ giải quyết và không có lịch hẹn cụ thể ???

Vậy xin được hỏi luật sư:

1.  Hành vi của gia đình anh B có phải là cố ý chiếm đoạt tài sản của gia đình ông A, và gây cản trở người thi hành công vụ ? theo pháp luật thì sẽ xử lý như thế nào ?

2. Trường hợp này UBND xã sẽ giải quyết như thế nào để đảm bảo quyền lợi cho người dân, UBND xã đã làm đúng quyền hạn và trách nhiệm của mình chưa ?

Xin cảm ơn luật sư và mong nhận được sự phản hồi sớm từ phía công ty, chúc quý công ty ngày càng phát triển./

Trân trọng!

Người gửi: Huyen Hung

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật đất đai của công ty luật Minh Khuê.

>>  Luật sư tư vấn luật Đất đai qua điện thoại gọi số:  1900 6162

 

Trả lời:

1.Cơ sở pháp lý:

- Luật Đất đai số 13/2003/QH11;

- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, số 37/2009/QH12 của Quốc hội;

- Nghị định 102/2014/NĐ-CP của Chính phủ về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.

2.Nội dung tư vấn:

2.1.Thứ nhất về hành vi của gia đình anh B có phải là cố ý chiếm đoạt tài sản của gia đình ông A, và gây cản trở người thi hành công vụ ? theo pháp luật thì sẽ xử lý như thế nào ?

Một là về hành vi lấn chiếm đất của gia đình anh B:

Căn cứ Điều 173 Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009):

"Điều 173. Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai

1. Người nào lấn chiếm đất hoặc chuyển quyền sử dụng đất, sử dụng đất trái với các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng đất đai gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ ba mươi triệu đồng đến một trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến hai mươi triệu đồng." 

Như vậy trong trường hợp này c ủa bạn thì nêu có đầy đủ căn cứ chứng minh hành vi của gia đình hàng xóm là lấn chiếm đất trái quy định của pháp luật thì mà gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt về hành vi trên thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 1999( Sửa đổi bổ sung năm 2009).Nếu không đủ yếu tố để câu thành tội phạm thì theo quy định có thể bị xử lý vi phạm hành theo quy định của pháp luật. Cụ thể:

"Điều 10: Lấn, chiếm đất

3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi lấn, chiếm đất ở.

4. Hành vi lấn, chiếm đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình thì hình thức và mức xử phạt thực hiện theo quy định tại Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực về hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở; trong lĩnh vực về giao thông đường bộ và đường sắt; trong lĩnh vực về văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo; trong lĩnh vực về khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi; đê điều; phòng, chống lụt, bão và trong các lĩnh vực chuyên ngành khác.

5. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm đối với hành vi quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều này;

b) Buộc trả lại đất đã lấn, chiếm đối với hành vi quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều này."

Hai là hành vi cản trở cán bộ xã của gia đình anh B:

Căn cứ Điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999( Sửa đổi, bổ sung năm 2009):

"Điều 257. Tội chống người thi hành công vụ

1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm :

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng;

đ) Tái phạm nguy hiểm."

Như vậy hành vi của vợ anh B ra giật giây và cản chở không cho cắm dây vào hai đầu mỏ và nói không giải quyết 2,4m2 khi cán bộ địa chính thực hiện công vụ của mình với lỗi cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền và lợi ích của gia đình ông A do đó nếu khi có đủ yếu tố trên hành vi của vợ anh B có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội quy định tại Điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999( Sửa đổi, bổ sung năm 2009).

2.2.Thứ hai về trường hợp này UBND xã sẽ giải quyết như thế nào để đảm bảo quyền lợi cho người dân, UBND xã đã làm đúng quyền hạn và trách nhiệm của mình chưa ?

Căn cứ Điều 135 Luật đất đai năm 2003:

"Điều 135. Hoà giải tranh chấp đất đai

1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hoà giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hoà giải ở cơ sở.

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hoà giải được thì gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp.

Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hoà giải tranh chấp đất đai.

Thời hạn hoà giải là ba mươi ngày làm việc, kể từ ngày Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nhận được đơn.

Kết quả hoà giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên tranh chấp và xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất. Trường hợp kết quả hoà giải khác với hiện trạng sử dụng đất thì Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chuyển kết quả hoà giải đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết theo quy định về quản lý đất đai."

Như vậy trong trường hợp này thì có thể thấy khi hai bên gia đình xảy ra tranh chấp về đất đai không thể tự hòa giải được thì UBND xã là cơ quan nhà nước có thẩm sẽ tiến hành hòa giải tranh chấp giữa hai bên.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê