1. Ủy ban nhân dân xã quyết định lấy đất khi đang có khiếu nại tranh chấp đất đai có đúng không?

Chào luật sư công ty luật Minh Khuê. Luật sư cho tôi tư vấn về vấn đề : Ủy ban nhân dân xã quyết định lấy đất khi đang có khiếu nại tranh chấp đất đai có đúng không?
Chân thành cảm ơn luật sư.

Luật sư tư vấn:

Theo như Luật đất đai 2013 quy định thì nhà nước có quyền thu hồi đất trong những trường hợp sau:

Điều 16. Nhà nước quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất

1. Nhà nước quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

a) Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng;

b) Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai;

c) Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người.

2. Nhà nước quyết định trưng dụng đất trong trường hợp thật cần thiết để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai.

Việc cưỡng chế thu hồi đất được thực hiện theo nguyên tắc tại Điều 71 như sau:

Điều 71. Cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất

1. Nguyên tắc cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 70 của Luật này.

2. Cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người có đất thu hồi không chấp hành quyết định thu hồi đất sau khi Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng đã vận động, thuyết phục;

b) Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất đã được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi;

c) Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất đã có hiệu lực thi hành;

d) Người bị cưỡng chế đã nhận được quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất có hiệu lực thi hành.

Trường hợp người bị cưỡng chế từ chối không nhận quyết định cưỡng chế hoặc vắng mặt khi giao quyết định cưỡng chế thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất và tổ chức thực hiện quyết định cưỡng chế.

4. Trình tự, thủ tục thực hiện cưỡng chế thu hồi đất:

a) Trước khi tiến hành cưỡng chế, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thành lập Ban thực hiện cưỡng chế;

b) Ban thực hiện cưỡng chế vận động, thuyết phục, đối thoại với người bị cưỡng chế; nếu người bị cưỡng chế chấp hành thì Ban thực hiện cưỡng chế lập biên bản ghi nhận sự chấp hành. Việc bàn giao đất được thực hiện chậm nhất sau 30 ngày kể từ ngày lập biên bản.

Trường hợp người bị cưỡng chế không chấp hành quyết định cưỡng chế thì Ban thực hiện cưỡng chế tổ chức thực hiện cưỡng chế;

c) Ban thực hiện cưỡng chế có quyền buộc người bị cưỡng chế và những người có liên quan phải ra khỏi khu đất cưỡng chế, tự chuyển tài sản ra khỏi khu đất cưỡng chế; nếu không thực hiện thì Ban thực hiện cưỡng chế có trách nhiệm di chuyển người bị cưỡng chế và người có liên quan cùng tài sản ra khỏi khu đất cưỡng chế.

Trường hợp người bị cưỡng chế từ chối nhận tài sản thì Ban thực hiện cưỡng chế phải lập biên bản, tổ chức thực hiện bảo quản tài sản theo quy định của pháp luật và thông báo cho người có tài sản nhận lại tài sản.

5. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện quyết định cưỡng chế thu hồi đất:

a) Ủy ban nhân dân cấp huyện chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện việc cưỡng chế, giải quyết khiếu nại liên quan đến việc cưỡng chế theo quy định của pháp luật về khiếu nại; thực hiện phương án tái định cư trước khi thực hiện cưỡng chế; bảo đảm điều kiện, phương tiện cần thiết phục vụ cho việc cưỡng chế; bố trí kinh phí cưỡng chế thu hồi đất;

b) Ban thực hiện cưỡng chế có trách nhiệm chủ trì lập phương án cưỡng chế và dự toán kinh phí cho hoạt động cưỡng chế trình Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền phê duyệt; thực hiện cưỡng chế theo phương án đã được phê duyệt; bàn giao đất cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng;

Trường hợp trên đất thu hồi có tài sản thì Ban thực hiện cưỡng chế phải bảo quản tài sản; chi phí bảo quản tài sản đó do chủ sở hữu chịu trách nhiệm thanh toán;

c) Lực lượng Công an có trách nhiệm bảo vệ trật tự, an toàn trong quá trình tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất;

d) Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, đơn vị có liên quan tổ chức thực hiện việc giao, niêm yết công khai quyết định cưỡng chế thu hồi đất; tham gia thực hiện cưỡng chế; phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng niêm phong, di chuyển tài sản của người bị cưỡng chế thu hồi đất;

đ) Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan chịu trách nhiệm phối hợp với Ban thực hiện cưỡng chế thực hiện việc cưỡng chế thu hồi đất khi Ban thực hiện cưỡng chế có yêu cầu;

6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Ngoài ra, thẩm quyền thu hồi đất theo pháp luật quy định không thuộc về Chủ tịch xã ,theo Luật đất đai 2013 quy định:

Điều 66. Thẩm quyền thu hồi đất

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

a) Thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều này;

b) Thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn.

2. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

a) Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;

b) Thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

3. Trường hợp trong khu vực thu hồi đất có cả đối tượng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất.

Do vậy việc Chủ tịch xã ra quyết định thu hồi đất là sai thẩm quyền.

Theo như quy định trên thì trong trường hợp có sơ sở thu hồi đất và có đầy đủ điều kiện cưỡng chế thu hồi đất cơ quan nhà nước có thẩm quyền cưỡng chế thu hồi mà không phụ thuộc vào việc Tòa án đang thụ lý hoặc đang giải quyết vấn đề tranh chấp đất đai. Trong trường hợp này bạn cũng không được phép thực hiện các hành vi ngăn cản việc cưỡng chế thu hồi đất mà phải yêu cầu Tòa án đang giải quyết gửi công văn yêu cầu Chủ tịch UBND xã dừng việc thu hồi đất. Việc Chủ tịch xã thực hiện thủ tục, trình tự thu hồi đất và cưỡng chế không bị coi là vi phạm pháp luật.

Nếu không đồng ý với quyết định thu hồi đất gia đình bạn có quyền gửi đơn khiếu nại nhưng về mặt nguyên tắc việc thu hồi và cưỡng chế vẫn được thực hiện, trong trường hợp việc thu hồi đất được xác định không đúng theo trình tự, thủ tục và quy định của pháp luật thì cơ quan nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho gia đình do việc thu hồi và cưỡng chế thu hồi gây ra. Do vậy trong thời gian khiếu nại quyết định hành chính thực hiện việc thu hồi đất, gia đình bạn nên yêu cầu Tòa án thực hiện một số biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ tài sản tránh thiệt hại không thể khắc phục được, quy định này tại Luật tố tụng hành chính 2015 :

Điều 66. Quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

1. Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự, người đại diện của đương sự có quyền yêu cầu Tòa án đang giải quyết vụ án đó áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 68 của Luật này để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, bảo đảm việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án.

2. Trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay chứng cứ, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 68 của Luật này đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho Tòa án đó.

3. Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không phải thực hiện biện pháp bảo đảm.

Bạn có thể gửi đơn yêu cầu tòa án đang thụ lý vụ án ra quyết định tạm đình chỉ việc thu hồi đất, kèm theo đơn là các chứng cứ để chứng minh cho sự cần thiết áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời này.

>> Tham khảo ngay: Hướng dẫn quy trình giải quyết tranh chấp đất đai ?

2. Tranh chấp đất đai có sổ đỏ thì giải quyết thế nào ?

Nhà tôi có sổ đỏ đứng tên tôi do bố mẹ cho. Ông bà tôi đón về ở cùng hơn 20 năm nay. Dù đi làm ăn xa nhưng gửi tiền về nuôi. Đến cách đây hơn 2 năm bố tôi mất thì mới nhờ anh trai tôi đến ở cùng chăm sóc được 7 tháng thì con gái tôi về ở cùng thì tôi không gửi tiền về nữa mà để con gái lo. Bây giờ bà muốn đòi đất nhà tôi để ở và cho anh trai tôi. Nói vợ chồng tôi đuổi trong khi trước đấy bảo đi xuống nhà anh trai tôi chơi. Nói vợ chồng tôi đuổi. Và đòi lại đất do không chăm sóc. Và đưa đơn kiện lên chính quyền. Xin luật sư tư vấn giúp tôi xem làm thế nào. Tôi thì muốn thuê luật sư đưa đơn kiện lên tòa án giải quyết ạ ?
Cảm ơn!
- Nguyễn Thùy Linh

3. Hỏi tranh chấp đất đai khi được chia đất ?

Xin chào luật sư, luật sư cho em xin hỏi một trường hợp sau đây:ba em có 4 người anh em, cả 4 người trước đây(20 năm trước) đều đã được nộiem chia đất rõ rầng, và ba em cũng được chia cho một mảnh đất. Tuy nhiên,vì làm ăn thất bại nên ba em phải lên sg làm ăn sinh sống, khi đó còn bànội ở trên mảnh đất đó, và một thời gian sau gia đình người bác thứ 3 dọnvề ở chung với bà nội. Trải qua một thời gian dài, bà nội cũng đã mất vàbây giờ người bác đó có ý định giành mảnh đất đó của ba em. Khi nội chiađất cho ba em thì không có di chúc, và cũng không có giấy tờ gì hết, mảnhđất đó ba em cũng chưa làm giấy chủ quyền. Bây giờ chỉ còn mấy người lớntuổi sống xung quanh xác nhận là mảnh đất đó là của ba em thôi. Vậy nên bâygiờ luật sư cho em xin hỏi ba em có cơ hội để lấy lại mảnh đất đó không luật sư ?
Em xin cảm ơn luật sư nhiều.
- Lê Thành Tâm

4. Hỏi về tranh chấp đất đai khi ông bà để lại không để lại di chúc ?

Chào Luật sư! Luật sư cho em hỏi vấn đề này: Gia đình ông bà em có 6 người con ( có 2 bác , 2 cô ( 1 cô đã mất ), 1 chú ( đã mất ) và ba em. 2 bác em rời quê lập nghiệp. Bác cả em vào nam lập nghiệp năm 1983. Khi ông mất, bác cả không về. Mọi việc đều do ba em làm. Năm 2015 , Bác em để lại tài sản trong nam cho con, rồi bác về quê xin ba em đất xây nhà để ở và lo hương hỏa cho ông bà.

Ba em đã cho bác cất nhà với số diện tích bác muốn. Nhưng dần dần Bác cứ lấn chiếm đất nhà em mà không nói với ba mẹ em tiếng nào. Bác đòi cắt sổ đỏ nhưng ba em không đồng ý vì cách sống của Bác quá tham lam. Diện tích đất (1 phần của ông bà 1 phần đất mới nhà em ) có sổ đỏ là do ba em đứng tên. Ông bà em mất năm 1987 . Vậy luật sư cho em hỏi: Đất có sổ đỏ do ba em đứng tên trong đó có 1 phần đất do ông bà để lại không di chúc, giấy ủy quyền. Nếu bác em thưa kiện thì lợi thế sẽ nghiêng về ai? Ông bà em cũng mất cách đây 30 năm.

Mong phản hồi từ phía luật sư.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp, ông bà bạn mất cách đây 30 năm và không để lại di chúc, vì vậy, cần xem lại giá trị pháp lý của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ba bạn đứng tên có 1 phần đất mà bà bạn để lại, không loại trừ trường hợp giấy chứng nhận đó bị cấp sai quy định của pháp luật do ba bạn hưởng thừa kế không hợp pháp. Nếu ba mẹ bạn không có căn cứ về việc hưởng di sản thừa kế của ông bà bạn là hợp pháp thì mảnh đất đó sẽ được chia theo pháp luật, cụ thể tại Điều 675, 676 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:

"Điều 675. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;"

Theo đó, ông bà bạn có 6 người con, mảnh đất đó sẽ được chia đều cho 6 người con đó, bố bạn được hưởng 1/6 mảnh đất đó. Tuy nhiên, do ông bà bạn đã mất cách đây 30 năm nên căn cứ Điều 645 Bộ luật dân sự 2005 thì đã hết thời hiệu mở thừa kế:

"Điều 645. Thời hiệu khởi kiện về thừa kế

Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế."

Như vậy, Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế (thời điểm người để lại di sản mất). Như vậy, quá thời hạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế mà có tranh chấp về việc chia di sản thừa kế giữa ba và bác bạn thì họ không được áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp.

Để giải quyết tranh chấp thừa kế khi hết thời hiệu khởi kiện thì tại điểm 2.4 Phần I Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, cụ thể quy định về các trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế sau:

a. Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung."

Như vậy, dù còn thời hiệu khởi kiện thừa kế hay không thì mảnh đất ông bà bạn để lại không có di chúc sẽ được chia theo pháp luật, mỗi người sẽ được hưởng 1/6 mảnh đất đó, nếu phần đất của ông bà bạn đang đứng tên hợp pháp khi diện tích mảnh đất đó là 1/6 mảnh đất của ông bà bạn. Trường hợp bác bạn gửi đơn khởi kiện đến tòa án mà nội dung khởi kiện là khởi kiện về thừa kế (như chia di sản thừa kế, xác định quyền thừa kế …) thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện do đã hết thời hiệu khởi kiện; trường hợp đơn khởi kiện với nội dung khởi kiện là yêu cầu giải quyết việc chia tài sản chung của các đồng thừa kế thì tòa án sẽ thụ lý đơn; trong trường hợp này, tòa án sẽ áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết.

Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 247 Bộ luật dân sự thì:

"Điều 247. Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu

1. Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này."

Như vậy, trong trường hợp này, nếu bạn chứng minh được ba của bạn đã sử dụng toàn bộ diện tích đất này từ khi ông bà bạn mất được từ 30 năm trở lên, sử dụng công khai, liên tục và có xác nhận của những hộ gia đình xung quanh và của chính quyền địa phương thì ba của bạn được xác lập quyền sử dụng đối với toàn bộ diện tích đất này. Và như vậy, phần đất này sẽ không còn được coi là di sản thừa kế để chia cho bác của bạn, và bác của bạn không có quyền đòi chia di sản thừa kế của ông bà.

>> Tham khảo ngay: Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai và quy trình giải quyết tranh chấp đất đai tại tòa án ?

5. Tư vấn phương hướng giải quyết tranh chấp đất đai ?

Kính chào công ty luật Minh Khuê! Trước đây gia đình tôi có hai mảnh đất với diện tích: 1 sào 1 thước và 1 sào 4 thước do ông bà để lại cho tôi. Nguồn gốc mảnh đất là của bà nội tôi để lại cho tôi (có 2 trích lục kèm theo).

Từ sau năm 1975 đến năm 1990: gia đình tôi quản lý và sử dụng đất này. Từ năm 1990, do gia đình tôi không có điều kiện để canh tác nên ông Phạm A có sang nhà tôi để mượn bằng miệng thửa đất trên để chặt củi, lấy lá. Đến tháng 03/2013 con của ông Phạm A là lại ngang nhiên làm nhà trên diện tích đất thuộc quyền sử dụng đất của gia đình tôi mà không thông qua ý kiến của gia đình tôi. Nay tôi có nhu cầu sử dụng lại thửa đất trên nhưng con ông Phạm A không chịu trả lại mà ngang nhiên chiếm đoạt. Tôi đã nhiều lần làm đơn gửi UBND xã để giải quyết nhưng họ không giải quyết và trả lại đơn. (Được biết 2 mảnh đất trên ông phạm A đang chạỵ để được cấp sổ đỏ và nếu đã cấp sổ đỏ rồi thì gia đình tôi có thể lấy lại mảnh đất trên không). Trong trường hợp trên thì tôi làm thế nào để lấy lại mảnh đất trên?

Tôi xin chân thành cám ơn!

>> Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trong trường hợp này, gia đình nhà bác và gia đình nhà ông A đang có tranh chấp đất đai, nên các bên phải tiến hành hoà giải tại UBND theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai năm 2013:

"Điều 202. Hòa giải tranh chấp đất đai

1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.

Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất."

Vậy khi có tranh chấp về đất đai thì Chủ tich UBND xã phải có trách nhiệm tổ chức hoà giải, nếu hoà giải không thành thì bạn có thể làm đơn ra Toà. Nếu UBND không chấp nhận đơn và không tiến hành hoà giải thì Bác có thể khiếu nạn theo quy định tại Điều 204 Luật đất đai năm 2013 (Bộ luật tố tụng dân sự 2015) như sau:

"Điều 204. Giải quyết khiếu nại, khiếu kiện về đất đai

1. Người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai.

2. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính."

Tuy nhiên, khi khởi kiện, bạn phải cung cấp được chứng cứ chứng minh cho việc gia đình ông A này đã mượn đất gia đình bạn vào thời điểm trước đó. Ngoài ra, việc chiếm hữu quyền sử dụng đất như trên của ông A là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật, cũng không ngay tình nên không được pháp luật bảo vệ.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

6. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân xã trong việc giải quyết tranh chấp đất đai ?

Thưa luật sư, tôi có câu hỏi nhờ luật sư tư vấn :Bố tôi tiến hành làm thủ tục kê khai lên ubnd xã đề nghị được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (gcn) và đã được ubnd xã làm thủ tục đo đạc và kê khai, thông báo trên loa và niêm yết tại trụ sở ủy ban xã.

Nguồn gốc đất thì do cụ nội tôi để lại không có di chúc nên tất cả các con đẻ của cụ nội tôi đã họp và thống nhất cho bố tôi sở hữu tất cả miếng đất đó bằng cách lập vi bằng và đã lập vi bằng xong, thuế đất hàng năm bố tôi vẫn đóng đầy đủ(có biên lai). Trong thời gian niêm yết thì bà mẹ kế của bố tôi(vợ 2 của ông nội tôi) đã làm đơn đề nghị dừng thủ tục cấp gcn cho bố tôi. Ubnd đã gọi bố tôi và bà mẹ kế bố tôi lên hòa giải 02 lần và đều hòa giải không thành đã được lập thành văn bản có chữ ký đầy đủ các bên và dấu đỏ của ủy ban xã. Sau 45 ngày kể từ ngày bà mẹ kế đưa đơn lên ủy ban xã đề nghị dừng thủ tục cấp gcn cho bố tôi thì đã tiến hành xong 02 lần hòa giải kết quả không thành. Bà mẹ kế cũng không chứng minh được tài sản đang tranh chấp là của bà ý và cũng không chứng minh được miếng đất đó không phải của bố tôi, các lần lên hòa giải bà chả chứng minh được gì với lý do chỉ đơn giản là làm đơn để đề nghị dừng cấp gcn cho bố tôi.

Vậy luật sư cho hỏi rằng ubnd xã có trách nhiệm phải gửi hồ sơ lên phòng tài nguyên và môi trường huyện để tiếp tục làm thủ tục cấp gcn cho bố tôi không. Hay là trách nhiệm của xã sau 02 lần hòa giải đã hết và các bên đương sự phải tự mình giải quyết tiếp. Cách giải quyết tiếp theo mà bố tôi cần phải làm là gì. Thủ tục giấy tờ của bố tôi là đầy đủ, không sai (do đã được ubnd xã chấp thuận và làm thủ tục đo đạc, kê khai, thông báo trên loa phát thanh xã và niêm yết ở trụ sở ủy ban) chẳng nhẽ cứ có đơn thư mà họ không chứng minh được là có thể kìm được việc cấp gcn của bố tôi mãi sao?

- Quang H

Luật sư trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi yêu cầu tư vấn đến luật Minh Khuê, câu hỏi của bạn đã được chúng tôi nghiên cứu và trả lời như sau:

1. Ủy ban nhân dân cấp xã có làm sai quy định ?

Theo quy định tại Luật Đất đai 2013, ủy ban nhân dân cấp xã, phường nới có đất đang làm đúng trách nhiệm của mình với bạn, cụ thể:

Việc xác minh hiện trạng đất, niêm yết công khai thông tin thửa đất tại trụ sở UBND và thông báo lên loa phát thanh xã thì đây là các buốc trong Thủ tục khai nhận di sản thừa kế. Nếu trong thời hạn niêm yết mà có khiếu nại, tranh chấp thì UBND cấp xã tiến hành hòa giải là đúng quy định của pháp luật. Bạn lưu ý rằng biên bản hòa giải của UBND cấp xã không phải là quyết định hành chính buộc các bên phải tuân theo.

Vậy UBND cấp xã đang làm đúng quy định của pháp luật.

2. Giải quyết tranh chấp thông qua con đường tố tụng

Theo quy định tại Bộ luật dân sự 2015, thời hiệu khoải kiện chia thừa kế là 30 năm kể từ ngày người để lại di sản mất, nếu sau 30 năm những người có quyền thừa kế không khởi kiện thì di sản của người đã khuất sẽ thuộc về người đang trực tiếp quản lý di sản. Ngược lại, những người có quyền thừa kế được quyền khởi kiện trong khoảng thời gian này.

Giả sử người mẹ kế của bố bạn( vợ ông nội bạn) có kết hôn hợp pháp thì khi ông nội bạn mất không để lại di chúc thì người vợ của ông nội bạn là một trong những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất vậy khi làm văn bản thỏa thuận bằng vi bằng không có chữ ký của người này thì có nghĩa là người này vấn có quyền được hưởng di sản thừa kế. Vì vậy, có quan có thẩm quyền dừng việc cấp giấy chứng nhận cho bạn là đúng.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Đất đai - Công ty luật Minh Khuê