Vì địa chính lúc trước đã làm sai quyền sử dụng đất của nhà em.( đất nhà em mà địa chính xã cấp sai cho người khác). Địa chính xã kêu em về làm các hồ sơ và địa chính mời người đứng tên đất nhà em đến xã để xác nhận và kêu em chờ kết quả. Đến tháng 8/2016 em vẫn chưa nhận được thông báo, em lại xuống lần nữa và địa chính kêu em làm lại hồ sơ vì hồ sơ đã hết hạn .Từ năm 2011 đến nay 2016 đã 5 năm mà vẫn chưa làm được sổ đỏ. Và em lại làm hồ sơ lại từ đầu và đem cho mấy hộ giáp ranh ký tên xác nhận nộp lại cho địa chính xã, địa chính xã hẹn em ngày mai lên xem đất lại là xong nhưng đến nay 24/09/2016 vẫn không thấy ai lên hết, (em có điện thoại lần đầu bắt máy hẹn e tuần sau, mà không thấy ai, nên em điện thoại tiếp thì người đó tắt máy, em có nhắn tin người đó cũng không trả lời.

Vậy luật sư cho em hỏi như vậy địa chính xã có chịu trách nhiệm chuyện này không? Và xin luật sư chỉ cho em cách giải quyết ?

Trong khi chờ đợi luật sư trả lời tôi chân thành cám ơn !*

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật đất đai của Công ty Luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến, gọi:  1900 6162

 

Trả lời

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Nghị định số 88/2009/NĐ-CP Về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

Nghị định số 43/2014/NĐ-CP Về quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai 

Luật tố cáo 2011 số 03/2011/QH13

2. Nội dung tư vấn:

2.1. Trách nhiệm của địa chính xã

Theo thông tin bạn đưa ra thì có hai địa chính xã thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhà bạn, việc địa chính xã có phải chịu trách nhiệm không? Chúng tôi xin trả lòi như sau:

Thứ nhất, căn cứ vào Khoản 2, Điều 15 Nghị định số 88/2009/NĐ-CP 

" Điều 15. Hồ sơ và trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận đối với trường hợp tài sản gắn liền với đất mà chủ sở hữu không đồng thời là người sử dụng đất.

2. Trường hợp người đề nghị cấp Giấy chứng nhận nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân xã, thị trấn thì Ủy ban nhân dân xã, thị trấn có trách nhiệm thực hiện các công việc sau đây:

a) Kiểm tra, xác nhận vào đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận về tình trạng tranh chấp quyền sở hữu tài sản;

b) Kiểm tra, xác nhận vào sơ đồ nhà ở hoặc công trình xây dựng (trừ trường hợp sơ đồ nhà ở hoặc công trình xây dựng đã có xác nhận của tổ chức có tư cách pháp nhân về hoạt động xây dựng hoặc hoạt động đo đạc bản đồ);

c) Công bố công khai kết quả kiểm tra hồ sơ tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã, thị trấn trong thời hạn 15 ngày, xem xét giải quyết các ý kiến phản ánh về nội dung công khai;"

Theo đó, địa chính xã trước đó đã không thực hiện công việc của mình thì phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ của mình.

Thứ hai, căn cứ vào khoản 2 và điểm a, khoản 3 Điều 70 nghị định số 43/2014/NĐ-CP về trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã 

" Điều 70. Trình tụ, thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu và đang ký bổ sung đối với tài sản gắn liền với đất

2. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam đề nghị đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ và thực hiện các công việc như sau:

a) Trường hợp đăng ký đất đai thì xác nhận hiện trạng sử dụng đất so với nội dung kê khai đăng ký; trường hợp không có giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật đất đai và Điều 18 của Nghị định này thì xác nhận nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất, tình trạng tranh chấp sử dụng đất, sự phù hợp với quy hoạch.

Trường hợp đăng ký tài sản gắn liền với đất thì xác nhận hiện trạng tài sản gắn liền với đất so với nội dung kê khai đăng ký; trường hợp không có giấy tờ quy định tại các Điều 31, 32, 33 và 34 của Nghị định này thì xác nhận tình trạng tranh chấp quyền sở hữu tài sản; đối với nhà ở, công trình xây dựng thì xác nhận thời điểm tạo lập tài sản, thuộc hay không thuộc trường hợp phải cấp phép xây dựng, sự phù hợp với quy hoạch được duyệt; xác nhận sơ đồ nhà ở hoặc công trình xây dựng nếu chưa có xác nhận của tổ chức có tư cách pháp nhân về hoạt động xây dựng hoặc hoạt động đo đạc bản đồ;

b) Trường hợp chưa có bản đồ địa chính thì trước khi thực hiện các công việc tại Điểm a Khoản này, Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo cho Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện trích đo địa chính thửa đất hoặc kiểm tra bản trích đo địa chính thửa đất do người sử dụng đất nộp (nếu có);

c) Niêm yết công khai kết quả kiểm tra hồ sơ, xác nhận hiện trạng, tình trạng tranh chấp, nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và khu dân cư nơi có đất, tài sản gắn liền với đất trong thời hạn 15 ngày; xem xét giải quyết các ý kiến phản ánh về nội dung công khai và gửi hồ sơ đến Văn phòng đăng ký đất đai.

3. Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện các công việc như sau:

a) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư nộp hồ sơ tại Văn phòng đăng ký đất đai thì gửi hồ sơ đến Ủy ban nhân dân cấp xã để lấy ý kiến xác nhận và công khai kết quả theo quy định tại Khoản 2 Điều này. "

Như vậy, theo thông tin bạn đưa ra thì địa chính xã đã không thực hiện trích đo địa chính thửa đất hoặc kiểm tra bản trích đo địa chính thửa đất nhà bạn. Tiếp đó là về mặt thời gian, từ tháng 8/ 2016 đến 24/9/2016 đã quá thời gian niêm yết công khai kết quả kiểm tra hồ sơ...(điểm c, khoản 2, Điều 70 Nghị định 43/2014/NĐ-CP)

Kết hợp với khoản 2, Điều 96 về Đối tượng bị xử lý vi phạm về luật đất đai và Điều 97 về Hành vi vi phạm luật đất đai thì đại chính xã phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm của mình. 

2. Phương án giải quyết

Bạn có thể làm đơn tố cáo hoặc tố cáo tực tiếp đến chủ tịch UBND xã, trình tự giải quyết tố cáo sẽ được thực hiện theo quy định của Luật tố cáo năm 2011 số 03/2011/QH13.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số:  1900 6162  hoặc gửi qua email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Đất đai - Công ty luật Minh Khuê