Vợ cũ em tôi đã không trả lại cho Gia đình tôi mà mang đi cắm cầm đồ lấy 30.000.000 đồng mà không có bất cứ một giấy ủy quyền nào. Xin hỏi luật sư tôi muốn lấy lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ vợ cũ em tôi thì cần làm thủ tục gì và báo cáo cho cơ quan nào để được giúp đỡ, Việc làm của vợ cũ em tôi có vi phạm pháp luật hay không.

Tôi xin chân thành cảm ơn Luật sư.!

Người gửi: P.H

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật đất đai của công ty luật Minh Khuê.

Vợ cũ đi cầm đồ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có vi phạm pháp luật hay không ?

Luật sư tư vấn luật đất đai gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Công ty Luật Minh Khuê. Với câu hỏi của bạn chúng tôi xin được trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự  năm 2005

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011

Bộ luật hình sự năm 2009 

2. Nội dung phân tích:

Trong bà viết bạn gửi đến Công ty bạn có nói sau khi ly hôn vợ cũ của em trai bạn đã lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông bà bạn mang đi thế chấp để lấy 30.000.000 VNĐ mà không có bất kì giấy ủy quyền nào.Quyền sử dụng đất là di sản thừa kế của ông bà bạn để lại. Vì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn mang tên ông bà bạn nên chúng tôi hiểu rằng gia đình bạn vẫn chưa làm xong thủ tục phân chia di sản thừa kế. Theo quy định của Điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005 thì:

"1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột,.  dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại."

Như vậy, vợ cũ của em trai bạn không có quyền thừa kế di sản của ông bà bạn để lại. Vợ cũ của em trai bạn không có quyền đối với mảnh đất trên.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 342 Bộ luật dân sự thì : " Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp." Như vậy theo quy định của Bộ luật dân sự thì tài sản thế chấp phải thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp.

Do đó, gia đình bạn có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện nơi có bất động sản tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu vì vi phạm về chủ thể để đòi lại tài sản ( Điều 33, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011)

Ngoài ra, theo Điều 141 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định tội chiếm giữ trái phép tài sản, theo đó:

Người nào cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản có giá trị từ năm triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hoá bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm."

Trong trường hợp trên, em trai của bạn khi dọn nhà đã quên không cầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và vợ cũ của em trai bạn đã tìm được, lấy được. Biết rõ đây không phải tài sản của mình nhưng không trả lại cho gia đình bạn mà lại đi thế chấp lấy 30.000.000 đồng. Hành vi này có thể cấu thành tội chiếm giữ trái phép tài sản theo Điều 141 Bộ luật hình sự. 

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn dịch vụ tư vấn của Công ty chúng tôi. Nếu còn thắc mắc bạn vui lòng liên hệ qua địa chỉ email hoặc qua tổng đài luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến, gọi 1900 6162  để được tư vấn

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh KHuê