Nay mẹ tôi mưốn bán phần đất này. Nhưng phải có giấy xác nhận độc thân mới thực hiện giao dịch được. Xin luật sư hướng dẫn giúp. Xin cảm ơn luật sư.

Luật sư trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý

- Luật đất đai 2013;

- Luật hộ tịch 2014;

- Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật hộ tịch.

2. Luật sư tư vấn

Theo quy định của luật đất đai thì quyền sử dụng đất của một cá nhân, tổ chức được xác lập kể từ thời điểm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo đó, những cá nhân, tổ chức được ghi nhận tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có quyền thực hiện tất cả các quyền đối với phần đất của mình bao gồm quyền chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn...Tuy nhiên, theo quy định của luật hôn nhân và gia đình 2014 thì những tài sản là bất động sản được xác lập trong thời kỳ hôn nhân thì được coi là tài sản chung của hai vợ, chồng, khi muốn chuyển nhượng phần đất này thì phải được sự đồng ý của cả chồng và vợ. Vì luật đất đai trước đây chưa yêu cầu bắt buộc phải ghi tên cả vợ và chồng trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nên còn gây khó khăn trong việc quản lý, cho nên trong thực tế khi mua bán đất thì cơ quan có thẩm quyền thường sẽ yêu cầu bên nhận chuyển nhượng phải cung cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của mình để chứng minh về tài sản chung, tài sản riêng của cá nhân.

Đối chiếu với trường hợp của bạn thì khi mẹ bạn bán đất mà cơ quan có thẩm quyền yêu cầu cung cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân là phù hợp với quy định của pháp luật.  

Cụ thể điều 21  Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định về thẩm quyền cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân như sau:

Điều 21. Thẩm quyền cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân

1. Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của công dân Việt Nam thực hiện việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

Trường hợp công dân Việt Nam không có nơi thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi người đó đăng ký tạm trú cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

2. Quy định tại Khoản 1 Điều này cũng được áp dụng để cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân nước ngoài và người không quốc tịch cư trú tại Việt Nam, nếu có yêu cầu.

Như vậy, theo quy định trên thì trường hợp của mẹ bạn nếu muốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì mẹ bạn phải đến Cơ quan tư pháp xã, phường nơi mẹ bạn có hộ khẩu thường trú để xin giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để chứng minh phần đất này không được xác lập trong thời kỳ hôn nhân của mẹ và bố bạn, cho nên bố bạn không cần phải ký tên khi bán phần đất này.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Đất đai - Công ty luật Minh Khuê