Ngày 13/5/2016 tôi đã liên lạc với bà H hỏi mua lô đất đó và bà H đã hẹn gặp tôi tại hiện trường của lô đất bên cạnh nhà ông T và nói muốn bán lô đất này với giá 1.150.000.000đ ( Một tỷ, một trăm, năm mươi triệu), lô đất có số 151 trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tôi đã đồng ý mua và đặt cọc trước 50.000.000đ ( Năm Mươi triệu đồng ) theo đề nghị của bà H. Ngày 16/5/2016 tôi và bà H đã đến văn phòng công chứng Thiên Long  làm hợp đồng chuyển nhượng quyển sử dụng đất và được công chứng tại đây. Sau khi làm thủ tục hợp đồng chuyển nhượng, công chứng song, tôi đã chuyển nốt số tiền còn lại cho bà H theo số tài khoản ghi trong hợp đồng, số tiền là 1.100.000.000đ (Một tỷ một trăm triệu đồng). Hợp đồng mua bán xong tôi đi làm cấp phép thi công xây dựng và được phòng Quản lý đô thị thành phố xuống giao đất thi công và giao cho tôi lô đất không phải lô đất mà bà H chỉ cho tôi ở hiện trường bên cạnh nhà ông T, mà là lô đất cách đó 8m ( tương đương cách 2 lô khác) mới là lô số 151, lô đất này có đường chính diện đâm vào nhà. Từ những sự việc trên, có thể khẳng định bà H đã gian dối khi chỉ cho tôi lô đất số 148 bên cạnh nhà ông T lại nói đây là lô đất số 151 của mình. Sau khi xẩy ra những sự việc trên bà H đã gặp chồng tôi để thương lượng giải quyết và đã trả lại cho chồng tôi 120.000.000 ( Một trăm hai mươi triệu đồng ) và chồng tôi đã viết giấy cam kết không kiện bà H nữa. Sự việc thỏa thuận này chỉ có chồng tôi và bà H, tôi không đồng ý vì sự thiệt thòi đến với gia đình tôi là rất lớn, lô đất này hiện tại bán đi giá khoảng 900.000.000 đồng (Chín trăm triệu đồng chẵn). Tôi đã đòi bà H phải chả thêm tiền cho tôi nhưng bà không nghe vì lý do là chồng tôi đã nhận tiền và cam kết không kiện rồi ( cam kết chỉ một chồng tôi ký). Vậy thưa luật sư tôi có kiện được bà H không và tôi phải làm gì bây giờ, rất mong được sự tư vấn sớm nhất của luật sư. Xin chân thành cảm ơn! * Những cơ sở pháp lý tôi có Họ và tên người làm chứng N.V.T.Những tài liệu, chứng kèm theo đơn khởi kiện gồm có: 1/ Hợp Đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ( Bản sao công chứng ). 2/ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ( Bản sao công chứng ). 3/ Hộ khẩu thường trú ( Bản sao công chứng ). 4/ Chứng minh nhân dân ( Bản sao công chứng ). 5/ Đĩa CD ghi âm bà H công nhận đã chỉ sai lô đất ( Bản sao từ ghi âm điện thoại ). 6/ Giấy đặt cọc ( Bản sao công chứng ). 7/ Hóa đơn chuyển tiền của ngân hàng vào tài khoản của bà H ( Bản sao công chứng ).

Nội dung trả lời

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

 

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự năm 2015. 

Luật công chứng năm 2014. 

2: Nội dung phân tích:

Căn cứ Điều 52 luật công chứng năm 2014:

"Điều 52. Người có quyền đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu

Công chứng viên, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu khi có căn cứ cho rằng việc công chứng có vi phạm pháp luật."

Tức là, trong trường hợp này bạn chứng minh được sự vô hiệu của hợp đồng chuyển nhượng do bị lừa dối theo quy định tại Điều 127 Bộ luật dân sự năm 2015 thì bạn được đề nghị toà án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng đó là vô hiệu:

"Điều 127: Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép:

Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình."

Điều 131: Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu :

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

5. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định."

Căn cứ vào điều 131 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu, bà A phải hoàn lại số tiền đã nhận của bạn,bạn trả lại đất cho bà A. Ngoài ra bà A phải bồi thường thêm khoản tiền chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm bán so với thời điểm toà xét xử. Khoản tiền đó sẽ được toà án quy định dựa trên mức định giá đất của UBND tỉnh B so với giá đất thị trường.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Tư vấn pháp Luật đất đai.