Khi tôi mua có hợp đồng mua bán và có sự chứng nhận của trưởng ấp (có mộc vuông, tuy nhiên ông này mới chết cuối năm ngoái) và những người ký giáp danh với đất của tôi. Cho đến tháng 6/2015 chủ đất đã làm được sổ đỏ cho thửa đất trên nhưng trên sổ đỏ lại có thêm người thứ 3 đứng tên nữa là M. Bây giờ P và T nói ủy quyền lại cho anh M đứng tên có tất cả quyền hành quyết định thửa đất trên. Anh M là người ngang ngược nói là đất của anh ấy khi bán anh ấy ko ký nên giờ thửa đất này là của anh ấy và gọi người khác bán với giá cao gấp 3 lần số tiền mà tôi mua. (rất có thể 3 anh em này âm mưu thông đồng với nhau ủy quyền cho anh M không mua bán với tôi để chiếm đoạt tài sản của tôi nếu bán được cho người khác thì sẽ sang tên cho người khác và lúc đó tôi mất hết). Xin Luật sư cho tôi hỏi với hợp đồng mua bán có trưởng ấp ký trên đất ko có sổ đỏ như trên ra tòa có được giải quyết pháp lý không? Và tôi có khả năng thắng kiện ko? 3 anh em P, T, M có được ghép vào tội chiếm đoạt tài sản không?

Xin cảm ơn Luật sư!

Câu hỏi được biên tập bởi chuyên mục tư vấn luật đất đai công ty luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai, gọi: 1900.6162

 

Trả lời

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11

Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10

Luật đất đai năm 2013 số 45/2013/QH13

2. Nội dung tư vấn:

Theo quy định tại điều 699, Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: 

Điều 699. Nghĩa vụ của bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất có các nghĩa vụ sau đây:

1. Chuyển giao đất cho bên nhận chuyển nhượng đủ diện tích, đúng hạng đất, loại đất, vị trí, số hiệu và tình trạng đất như đã thoả thuận;

2. Giao giấy tờ có liên quan đến quyền sử dụng đất cho bên nhận chuyển nhượng.

Theo quy định trên, khi P và T đã bán đất cho bạn nhưng không giao các giấy tờ có liên quan đến quyền sử dụng đất thì P và T đã vi phạm khoản 2 điều 699 Bộ luật dân sự 2005. 

Tại điều 166, Luật đất đai 2013 quy định cụ thể về: 

Điều 166. Quyền chung của người sử dụng đất

1. Được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

2. Hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất.

3. Hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước phục vụ việc bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp.

4. Được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp.

5. Được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình.

6. Được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật này.

7. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai.

Do vậy bạn có quyền được nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của bạn theo khoản 5 điều 166 luật đất đai 2013 và có quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của bạn và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai theo quy định tại khoản 7 điều 166 luật đất đai 2013. 

Điều 203. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.

Như vậy sau khi đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã không thành mà bạn muốn giải quyết tại Tòa án thì bạn có thể chọn hình thức giải quyết tại điểm b khoản 2 điều 203 luật đất đai về thẩm quyền giải quyết của Tòa án bạn nhé. 
Về việc 3 anh em P, T, M có được ghép vào tội chiếm đoạt tài sản không còn phải xem xét vào các yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại điều 139 Bộ luật hình sự như sau: 
Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
Ta xem xét mặt khách quan của tội phạm này. Về hành vi, có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết, bằng hành động hoặc bằng nhiều hình thức khác nhau như giả vở vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản. Thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa giao tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận. Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản, nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt thì không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. 
Do vậy, 3 anh em P, T và M chỉ có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nếu thỏa mãn dấu hiệu pháp lý như đã nêu ở trên. 
 
Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật MInh Khuê