Định giá quyền sự dụng đất của nhà ông Hải là 4 tỷ 5 (mặc dù giá trị thị trường 2 tỷ) và tin rằng thời gian tới căn nhà theo quy hoạch sẽ trở thành mặt tiền và giá nhà đất sẽ tăng, định giá bà Dương là 3 tỷ 5, ông Học tương đương 2 tỷ. Nhưng khi thành lập công ty, ông Học góp 1 nữa, số còn lại các thành viên nhất trí cho ông Học góp vào tháng 1/2009.

Hỏi: Các loại tài sản góp vốn và định giá tài sản góp vốn của các thành viên có pháp luật hay không ? Tại sao ?

Xác định vốn điều lệ, tỷ lệ vốn góp của từng thành viên trong vốn điều lệ, xác định tỷ lệ hưởng lợi nhuận ông Học năm 2007/2008
Người gửi: ĐV Hoàng Tuấn
Câu hỏi được biên tập từchuyên mục hỏi đáp pháp luậtcủa Công ty Luật Minh Khuê.
 
 

Các loại tài sản góp vốn và định giá tài sản góp vốn của các thành viên Gọi: 1900 6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới Công ty Luật Minh Khuê. Đối với trường hợp bạn đã trình bày, tôi xin tư vấn như sau:

1. Các loại tài sản góp vốn và định giá tài sản góp vốn của các thành viên có pháp luật hay không?

Điều 4.4 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định:  “…Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty…”. Điều 5 Nghị định số 102/2010/NĐ-CP hướng dẫn bổ sung về tài sản góp vốn là quyền sở hữu trí tuệ bao gồm: quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và các quyền sở hữu trí tuệ khác theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ mà cá nhân, pháp nhân góp vốn là chủ sở hữu các quyền sở hữu trí tuệ đó.

Như vậy, ông Hải góp vốn bằng căn nhà và quyền sử dụng đất, ông Học góp vốn bằng 100 lượng vàng là đúng quy định pháp luật; bà Dương góp vốn bằng 160.000 cổ phiếu là đúng quy định pháp luật nếu trong Điều lệ công ty có quy định về việc được góp vốn bằng cổ phiếu.

2. Về định giá tài sản góp vốn:

Điều 30 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định:

1. Tài sản góp vốn không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá.

2. Tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp phải được các thành viên, cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí; nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì các thành viên, cổ đông sáng lập liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng số chênh lệch giữa giá trị được định và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá.

Trong trường hợp này, các thành viên tự định giá theo nguyên tắc nhất trí là phù hợp quy định pháp luật, việc định giá cao hơn so với giá thực tế tại thời điểm góp vốn, các thành viên phải liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty.

3. Xác định vốn điều lệ, tỷ lệ vốn góp của từng thành viên trong vốn điều lệ, xác định tỷ lệ hưởng lợi nhuận ông Học năm 2007/2008?

Điều 4.6 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: “Vốn điều lệ là số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào Điều lệ công ty”. Theo qui định của Nghị định 102/2010/NĐ-CP, thời hạn để thành viên hoàn thành nghĩa vụ góp vốn là 36 tháng kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Điều 4.5 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: “Phần vốn góp là tỷ lệ vốn mà chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu chung của công ty góp vào vốn điều lệ”.

Như vậy, nếu tại Điều lệ công ty quy định vốn điều lệ là số vốn thực góp, gồm ông Hải 2 tỷ, bà Dương 1 tỷ 6, ông Học 1 tỷ; tỷ lệ vốn góp của các thành viên là: ông Hải 43%, bà Dương 35%, ông Học 22%. Nếu Điều lệ công ty quy định vốn điều lệ là số vốn cam kết góp, bao gồm ông Hải là 4 tỷ, bà Dương là 3 tỷ 5, ông Học 2 tỷ; thì tỷ lệ vốn góp của từng thành viên trong vốn điều lệ là: Ông Hải 42 %, bà Dương 37%, ông Học 21%.

Về tỉ lệ hưởng lợi nhuận, Điều 41.1.d quy định quyền của thành viên công ty TNHH: “Được chia lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp sau khi công ty đã nộp đủ thuế và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật. Điều 18.3 Nghị định 102/2010/NĐ-CP quy định: “Trong thời hạn chưa góp đủ số vốn theo cam kết, thành viên có số phiếu biểu quyết và được chia lợi tức tương ứng với tỷ lệ số vốn thực góp, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định khác”.

Như vậy, tại thời điểm năm 2007/2008, ông Học chưa góp đủ số vốn theo cam kết thì ông được chia lợi tức tương ứng số vốn thực góp là 1 tỷ đồng.

Trân trọng!

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ

---------------------------------------------------

THAM KHẢO VÀ DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN: