Bà K đòi chia DNTN cụ thể là K đòi quyền sở hữu toàn bộ chi nhánh của DNTN An Khang tại Cần Thơ để trên cơ sở đó thành lập DNTN 2; bà K yêu cầu ông An đổi tên DNTN An Khang, không cho sử đụng tên bà K làm tên DN. Yêu cầu của bà K có hợp pháp không ? Tại sao ?
Đầu năm 2007 ông An định mở rộng quy mô kinh doanh của DNTN ra mi62n trung và ông ấy cân nhắc 2 phương án:|

1) Thành lập DNTN 2 tại Đà Nẵng

2) Thành lập chi nhánh DNTN 2 tại Đà Nẵng

Hỏi phương án nào hợp pháp, phương án nào không hợp pháp ? Tại sao ?

>> Luật sư tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp trực tuyến gọi số: 1900.1940

 

Câu 2: 1/4/2006 ông Hải, bà Dương, ông Học thỏa thuận thành lập TNHH Hải Dương Học. kinh doanh vật liệu xây dựng. thương mại tổng hợp với nội dung như sau: ông Hải góp vốn bằngcăn nhà và quyền sử dụng đất, bà Dương là 1 tỷ 6 tương đương 160.000 cổ phiếu, ông Họcgốp vốn bằng 100 lượng vàng, các thành viên nhất trí. Dịnh giá quyền sự dụng đất của nhà ông Hải là 4 tỷ 5 (mặc dù giá trị thị trường 2 tỷ) và tin rằng thời gian tới căn nhà theo quy hoạch sẽ trở thành mặt tiền và giá nhà đất sẽ tăng, định giá bà Dương là 3 tỷ 5, ông Học tương đương 2 tỷ. Nhưng khi thành lập công ty, ông Học góp 1 nữa, số còn lại các thành viên nhất trí cho ông Học góp vào tháng 1/2009.

Hỏi: Các loại tài sản góp vốn và định giá tài sản góp vốn của các thành viên có pháp luật hay không ? Tại sao ?

Xác định vốn điều lệ, tỷ lệ vốn góp của từng thành viên trong vốn điều lệ, xác định tỷ lệ hưởng lợi nhuận ông Học năm 2007/2008

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê.

Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Kính thư,

Người gửi: HTDV

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật doanh nghiệp của Công ty Luật Minh Khuê.

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về công ty chúng tôi! Vấn đề của bạn tôi xin được trả lời như sau:

Câu 1;

- Theo thông tin bạn cho biết thì công ty An Khang do ông An thành lập trước thời kì hôn nhân vì vậy theo quy định tại điều 43 luật hôn nhân và gia đình 2014 công ty An Khang là tài sản riêng của ông A. Nếu trong thời kì hôn nhân không có sự thỏa thuận đưa công ty vào là tài sản chung của vợ chồng thì bà K không có quyền đòi chia doanh nghiệp tư nhân khi ly hôn.

- Điều 32 luật doanh nghiệp 2005 quy định về những điều cấm trong đặt tên doanh nghiệp

"1. Đặt tên trùng hoặc tên gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp đã đăng ký.

2. Sử dụng tên cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, tên của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp để làm toàn bộ hoặc một phần tên riêng của doanh nghiệp, trừ trường hợp có sự chấp thuận của cơ quan, đơn vị hoặc tổ chức đó.

3. Sử dụng từ ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc".

Theo đó, việc ông An sử dụng tên của bà K để đặt tên cho doanh nghiệp tư nhân là hoàn toàn không trái với quy định của pháp luật. Nếu ai cũng như bà K cho rằng không được sử dụng tên riêng của mình để đặt tên cho doanh nghiệp thì e răng không có doanh nghiệp nào được ra đời vì lí do không tìm được tên để đăng kí. Việc bà K yêu cầu ông An đổi tên doanh nghiệp là không có cơ sở và ông An không có nghĩa vụ phải thực hiện.

- Theo quy định tại khoản 3 điều 141 Luật doanh nghiệp "Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân" và khoản 5 điều 37 "Doanh nghiệp có quyền lập chi nhánh, văn phòng đại diện ở trong nước và nước ngoài. Doanh nghiệp có thể đặt một hoặc nhiều văn phòng đại diện, chi nhánh tại một địa phương theo địa giới hành chính.Trình tự và thủ tục lập chi nhánh, văn phòng đại diện do Chính phủ quy định" thì việc ông An muốn thành lập một DNTN thứ hai tại Đà Nẵng là không thể thực hiện được vì ông đã là chủ sở hữu của một doanh nghiệp tư nhân - DNTN An Khang. Vì vậy, ông An chỉ có thể thực hiện phương án 2 là thành lập chi nhánh DNTN. Về thủ tục thành lập chi nhánh bạn có thể tham khảo quy định tại điều 33 nghị đinh 43/2010/NĐ-CP của Chính Phủ ban hành ngày 1/6/2010 về đăng doanh nghiệp.

Câu 2:

Luật doanh nghiệp 2005 quy định:

Khoản 4 điều 4 "...Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty."

Điều 30. Định giá tài sản góp vốn

1. Tài sản góp vốn không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá.

2. Tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp phải được các thành viên, cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí; nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì các thành viên, cổ đông sáng lập liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng số chênh lệch giữa giá trị được định và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá.

3. Tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động do doanh nghiệp và người góp vốn thoả thuận định giá hoặc do một tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá. Trường hợp tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được người góp vốn và doanh nghiệp chấp thuận; nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì người góp vốn hoặc tổ chức định giá và người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp cùng liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng số chênh lệch giữa giá trị được định và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá.

Theo đó thì việc ông Hải góp vốn bằng căn nhà và quyền sử dụng đất, bà Dương góp vốn bằng 160.000 cổ phiếu, ông Học góp vốn bằng 100 lượng vàng và việc ba người thỏa thuận định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế của tài sản tại thời điểm góp vốn là hoàn toàn hợp pháp. Tuy nhiên các thành viên phải liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của công ty bằng số chênh lệch giá trị được định và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá.

- Khoản 5, 6 điều 4: "5. Phần vốn góp là tỷ lệ vốn mà chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu chung của công ty góp vào vốn điều lệ.

6. Vốn điều lệ là số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào Điều lệ công ty."

Điểm d khoản 1 điều 42 quy  định về quyền của thành viên "Được chia lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp sau khi công ty đã nộp đủ thuế và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật" Khoản 3 điều 18 nghị định 102/2010/NĐ-CP quy định "trong thời hạn chưa góp đủ số vốn cam kết, thành viên có số phiếu biểu quyết và được chia lợi tức tương ứng với số vốn thực góp, trừ trường hợp điều lệ công tu có quy định khác"

Từ những căn cứ trên, nếu điều lệ của công ty quy định vốn điều lệ là vốn thực góp thì vốn điều lệ là 4,6 tỷ trong đó ông Hải chiếm 43%, bà Dương chiếm 35%, ông Học chiếm 22%; còn nếu điều lệ công ty quy định vốn điều lệ là vốn cam kết góp thì vốn điều lệ của công ty là 9,5 tỷ trong đó ông Hải chiếm 42%, bà Dương chiếm 37%, ông Học chiếm 21%. Và tại thời điểm năm 2007, 2008 ông Học chưa góp đủ số vốn cam kết nên ông được chia lợi nhuận tương ứng với phần vốn thực góp là 1 tỷ.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê