Mình muốn hỏi, nếu mình thực hiện việc chuyển nhượng 75% số cổ phần của mình cho 1 doanh nghiệp nước ngoài khác có nhu cầu, thì: 1- Việc chuyển nhượng có thực hiện được không, công ty vừa chuyển đổi loại hình doanh nghiệp < 1="" tháng?="" 2-="" thuế="" suất="" mình="" (người="" bán/người="" chuyển="" nhượng)="" phải="" nộp="" là="" 0,1%="" giá="" mua/chuyển="" nhượng="" có="" đúng="" không?="" lưu="" ý="" rằng="" công="" ty="" mình="" ko="" thực="" hiện="" bất="" kỳ="" giao="" dịch="" liên="" quan="" đến="" chứng="" khoán="" hay="" sàn="" chứng="" khoán="" (không="" phải="" là="" công="" ty="" đại="" chúng),="" loại="" hình="" cổ="" phần="" chỉ="" hoạt="" động="" kinh="" doanh="" thông="" thường="">

 Nhờ tổng đài hỗ trợ. Rất cám ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật doanh nghiệp công ty Luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn luật doanh nghiệp, gọi: 1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1.  Cơ sở pháp lý

Luật Doanh nghiệp 2014

Luật sửa đổi các luật về Thuế năm 2014

Thông tư 92/2015/TT_BTC hướng dẫn thực hiện một số quy định về thuế 

2. Nội dung tư vấn

Theo thông tin mà bạn cung cấp, việc chuyển nhượng cổ phần của bạn không thực hiện qua hình thức giao dịch trên sàn chứng khoán, do đó, việc chuyển nhượng cổ phần thực hiện trên các hợp đồng chuyển nhượng. Khoản 1 Điều 126 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định:

"Điều 126. Chuyển nhượng cổ phần

1. Cổ phần được tự do chuyển nhượng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 của Luật này và Điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần. Trường hợp Điều lệ công ty có quy định hạn chế về chuyển nhượng cổ phần thì các quy định này chỉ có hiệu lực khi được nêu rõ trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng."

Theo quy định tại khoản 3 Điều 119 Luật Doanh nghiệp 2014, cổ đông sáng lập của công ty cổ phần bị hạn chế chuyển nhượng cổ phần trong 3 năm kể từ khi có giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp chuyển đổi loại hình từ công ty TNHH sang công ty cổ phần thì khoản 1 Điều 119 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định không nhất thiết phải có cổ đông sáng lập.

Theo thông tin mà bạn cung cấp, doanh nghiệp của bạn chuyển đổi từ loại hình công ty TNHH sang công ty cổ phần nhưng không nêu rõ việc công ty có cổ đông sáng lập hay không. Bạn căn cứ vào giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp để xác định xem mình có phải là cổ đông sáng lập của công ty không. Nếu bạn là cổ đông sáng lập bạn sẽ phải chịu những hạn chế về việc chuyển nhượng cổ phần đối với cổ đông sáng lập quy định tại Điều 119 Luật Doanh nghiệp.

Nếu bạn là cổ đông sáng lập thì trong trường hợp này (doanh nghiệp mới chuyển đổi loại hình được một tháng, tức là vẫn trong thời hạn 3 năm kể từ khi chuyển đổi loại hình doanh nghiệp), bạn chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho một doanh nghiệp nước ngoài khác nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông, tức là quyền biểu quyết thuộc về 2 cổ đông còn lại của công ty bạn. 

Nếu bạn không phải là cổ đông sáng lập, bạn được chuyển nhượng cổ phần tự do cho doanh nghiệp nước ngoài đó. Tuy nhiên, bạn lưu ý, để thực hiện việc mua bán cố phẩn, doanh nghiệp nước ngoài đó phải thực hiện các thủ tục về đăng ký góp vốn, mua cổ phần theo quy định của pháp luật Đầu tư.

Trong trường hợp, bạn được thực hiện giao dịch chuyển nhượng cổ phần, thuế suất được áp dụng theo quy định của pháp luật Thuế. Theo quy định tại Điều 13 Luật Thuế thu nhập cá nhân đã được sửa đổi bổ sung tại khoản 5 Điều 2 Luật sửa đổi các luật về Thuế như sau:

"Điều 13. Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng vốn

1. Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng vốn được xác định bằng giá bán trừ giá mua và các khoản chi phí hợp lý liên quan đến việc tạo ra thu nhập từ chuyển nhượng vốn.

Đối với hoạt động chuyển nhượng chứng khoán, thu nhập chịu thuế được xác định là giá chuyển nhượng từng lần.

2. Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng vốn là thời điểm giao dịch chuyển nhượng vốn hoàn thành theo quy định của pháp luật.

Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Điều này.” Như vậy, thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân của bạn được xác định bằng giá chuyển nhượng cổ phần của bạn cho doanh nghiệp nước ngoài kia. Việc chuyển nhượng cổ phần của bạn được coi là chuyển nhượng chứng khoán không thông qua Sở giao dịch chứng khoán mà chuyển nhượng dựa trên hợp đồng chuyển nhượng cổ phần, do đó giá chứng khoán để tính thuế TNCN được xác định theo quy định tại điểm a.1.2 Điều 16 Thông tư 92/2015/TT_BTC: 

" giá chuyển nhượng là giá ghi trên hợp đồng chuyển nhượng hoặc giá thực tế chuyển nhượng hoặc giá theo sổ sách kế toán của đơn vị có chứng khoán chuyển nhượng tại thời điểm lập báo cáo tài chính gần nhất theo quy định của pháp luật về kế toán trước thời điểm chuyển nhượng." 

Về thuế suất thuế thu nhập cá nhân, khoản b Điều 16 Thông tư 92/2015/TT_BTC quy định: "Cá nhân chuyển nhượng chứng khoán nộp thuế theo thuế suất 0,1% trên giá chuyển nhượng chứng khoán từng lần." và cách tính thuế như sau: thuế TNCN phải nộp = giá chuyển nhượng chứng khoán từng lần * thuế suất 0.1%. Như vậy, cách hiểu của bạn về thuế suất và giá tính thuế TNCN là chính xác.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số:  1900 6162  hoặc gửi qua email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê