Xin luật sư giải đáp giúp tôi một số vấn đề: 1. Trong 3 năm đầu, hoạt động công ty không tạo ra doanh thu kinh doanh (vì chưa triển khai lĩnh vực tư vấn) mà có thể chỉ có doanh thu tài chính từ việc nhận cổ tức. Khi đó, việc góp vốn vào các công ty khác thông qua hình thức mua cổ phiếu như trên có bị coi là kinh doanh trái phép không?

2. Công ty có thể huy động vốn từ các khách hàng cá nhân dưới hình thức hợp đồng hợp tác đầu tư để thực hiện đầu tư góp vốn vào các công ty khác như trên không?

Xin cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật doanh nghiệp công ty Luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn pháp luật doanh nghiệp trực tuyến gọi: 1900.1940

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào các thông tin bạn cung cấp xin tư vấn như sau:

Cơ sở pháp lý:

Luật doanh nghiệp 2014

Luật đầu tư 2014

Nội dung tư vấn:

1. Trong 3 năm đầu, hoạt động công ty không tạo ra doanh thu kinh doanh (vì chưa triển khai lĩnh vực tư vấn) mà có thể chỉ có doanh thu tài chính từ việc nhận cổ tức. Khi đó, việc góp vốn vào các công ty khác thông qua hình thức mua cổ phiếu như trên có bị coi là kinh doanh trái phép không?

Căn cứ theo quy định tai Khoản 3 Điều 18 Luật doanh nghiệp 2014 về các trường hợp tổ chức, cá nhân không được góp vốn, mua cổ phần như sau:

"Điều 18. Quyền thành lập, góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp và quản lý doanh nghiệp.

3. Tổ chức, cá nhân có quyền góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh theo quy định của Luật này, trừ trường hợp sau đây:

a) Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;

b) Các đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức."

Theo đó, Công ty bạn không thuộc các trường hợp loại trừ quy định tại khoản 3 nêu trên, công ty bạn là tổ chức thành lập dưới hình thức công ty TNHH nên công ty bạn hoàn toàn có quyền góp vốn mua cổ phần của công ty khác.

2. Công ty có thể huy động vốn từ các khách hàng là cá nhân dưới hình thức hợp đồng hợp tác đầu tư để thực hiện đầu tư góp vốn vào các công ty khác như trên không?

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 48 và Khoản 3 Điều 73 Luật doanh nghiệp 2014 thì cả hai hình thức công ty TNHH hai thành viên trở lên và công ty TNHH một thành viên đều không có quyền phát hành cổ phần để huy động vốn, cụ thể:

"Điều 47. Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

3. Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên không được quyền phát hành cổ phần.

và Điều 73. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

3. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành cổ phần."

Như vậy,  theo quy định pháp luật nêu trên thì công ty bạn chỉ không có quyền huy động vốn theo hình thức phát hành cổ phần còn việc huy động vốn thông qua hình thức ký hợp đồng hợp tác đầu tư với các cá nhân để thực hiện hoạt động kinh doanh của công ty và thực hiện đầu tư vốn vào các công ty khác thì pháp luật không cấm. Tuy nhiên,  hợp đồng hợp tác đầu tư của các bạn phải có đầy đủ các nội dung: mục đích của việc hợp tác, phân chia lợi nhuận, quyền và nghĩa vụ của các bên... theo quy định để tránh xảy ra tranh chấp sau này. 

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật doanh nghiệp qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

BỘ PHẬN LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT.