Khách hàng của công ty tư vấn luật H là bên góp tiền. Khách hàng cho rằng chủ đầu tư có động thái chiến dụng vốn của khách hàng trong hợp đồng này và chỉ ra lý do: Tiền góp vốn khách hàng đã chuyển cho chủ đầu tư theo thỏa thuận trong hợp đồng, xong chủ đầu tư không xây dựng theo tiến độ dự án đã phê duyệt và theo tiến độ đã cam kết của hai bên trong hợp đồng. Vì vậy khách hàng muốn chấm dứt việc góp vốn trước thời hạn và yêu cầu đòi bồi thường, phạt hợp đồng do chủ đầu tư không thực hiện nghĩa vụ.

Hỏi: 1. Họ có được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn hay không?

2. hãy xác định những vấn đề pháp lí gì cần phải làm rõ với khách hàng để tư vấn trong vụ việc này? Trân trọng!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật doanh nghiệp công ty Luật Minh Khuê

Đơn phương chấm dứt hợp đồng thành lập doanh nghiệp có được không ?

 Luật sư tư vấn luật doanh nghiệp gọi:  1900.1940

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý

Bộ Luật Dân sự năm 2005 

Luật Thương mại năm 2005 

Luật Đầu tư năm 2014 

2. Nội dung tư vấn 

Theo quy định tại Điều 388 BLDS, hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Theo quy định tại khoản 9 Điều 3 Luật Đầu tư 2014, Hợp đồng hợp tác kinh doanh (sau đây gọi là hợp đồng BCC) là hợp đồng được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm. Theo đó, hợp đồng góp vốn hợp tác đầu tư xây dựng nhà ở và trung tâm thương mại dịch vụ và vui chơi giải trí giữa một bên góp tiền và một bên góp đất cũng là một văn bản thỏa thuận giữa hai bên, một bên có tiền và một bên có đất về việc xác lập mối quan hệ hợp tác đầu tư kinh doanh, trong đó có quy định rõ về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên.

Theo quy định tại Điều 29 Luật Đầu tư:

"Điều 29. Nội dung hợp đồng BCC

1. Hợp đồng BCC gồm những nội dung chủ yếu sau đây:

a) Tên, địa chỉ, người đại diện có thẩm quyền của các bên tham gia hợp đồng; địa chỉ giao dịch hoặc địa chỉ nơi thực hiện dự án;

b) Mục tiêu và phạm vi hoạt động đầu tư kinh doanh;

c) Đóng góp của các bên tham gia hợp đồng và phân chia kết quả đầu tư kinh doanh giữa các bên;

d) Tiến độ và thời hạn thực hiện hợp đồng;

đ) Quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng;

e) Sửa đổi, chuyển nhượng, chấm dứt hợp đồng;

g) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, phương thức giải quyết tranh chấp."

Căn cứ vào quy định trên, có thể thấy, vấn đề chấm dứt hợp đồng hợp tác đầu tư kinh doanh là một trong những nội dung chủ yếu của hợp đồng này. Ngoài ra, còn có các quy định về tiến độ, thời hạn thực hiện dự án cũng như quy định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.

Theo quy định tại Điều 426 BLDS:

"Điều 426. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dân sự

1. Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng nếu các bên có thoả thuận  hoặc pháp luật có quy định.

2. Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

3. Khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chấm dứt từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán.

4. Bên có lỗi trong việc hợp đồng bị đơn phương chấm dứt phải bồi thường thiệt hại."

Căn cứ vào quy định trên có thể thấy, trong trường hợp của vị khách hàng, người này có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng hợp tác đầu tư với phía bên kia nếu việc đơn phương chấm dứt này là một trong nội dung đã được thỏa thuận trong hợp đồng ký kết trước đó hoặc quy định của pháp luật. Theo đó, nếu việc thực hiện hợp đồng dân sự mà không có lợi cho mình, trái với mục đích ban đầu khi thực hiện kí kết hợp đồng thì các bên có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng.

Vấn đề bồi thường thiệt hại phải căn cứ vào yếu tố lỗi của bên gây thiệt hại. Theo thông tin mà bạn cung cấp, phía bên có đất đã không thực hiện đúng theo tiến độ đầu tư đã thỏa thuận trong hợp đồng, có dấu hiệu chiếm dụng vốn. Do đó, với nguyên tắc có lỗi quy định tại khoản 4 Điều 426 BLDS, bên có lỗi trong việc làm cho hợp đồng bị đơn phương chấm dứt hợp đồng phải bồi thường thiệt hại và bên phải bồi thường thiệt hại ở đây là bên phía nhà đầu tư có đất. Việc bồi thường thiệt hại chỉ được áp dụng trong trường hợp khách hàng này chứng minh được hành vi vi phạm về tiến độ thực hiện hợp đồng của phía bên kia đã gây ra thiệt hại thực tế đối với bên góp tiền. Vấn đề bồi thường thiệt hại được áp dụng theo quy định tại Điều 302 Luật Thương mại:

"Điều 302. Bồi thường thiệt hại

1. Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm.

2. Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm."

Về vấn đề phạt vi phạm hợp đồng, đây là một chế tài được quy định tại Điều 292 Luật Thương mại. Theo đó, bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận. Như vậy, trước hết phải xem xét trong hợp đồng hợp tác ban đầu có điều khoản về phạt vi phạm hợp đồng hay không. Việc áp dụng phạt vi phạm hợp đồng chỉ được thực hiện khi trong hợp đồng có quy định về vấn đề này. Về mức phạt, Luật thương mại quy định:

"Điều 301. Mức phạt vi phạm

Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 của Luật này."

Như vậy, căn cứ vào những quy định trên thì việc đơn phương chấm dứt hợp đồng phải được thực hiện theo thỏa thuận trong hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật, nếu việc đơn phương chấm dứt hợp đồng không đúng với các thỏa thuận trong hợp đồng hoặc quy định của pháp luật thì bên đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại cho bên kia (nếu có). 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số:  1900.1940  hoặc gửi qua email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê