Người gửi : Trần Mỹ Anh

Luật sư trả lời:

Trước hết, chúng tôi cảm ơn bạn vì đã tin tưởng gửi câu hỏi cho Bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật Công ty Luật TNHH Minh Khuê.

Tôi xin được tư vấn cho bạn như sau:

Đối với câu hỏi thứ nhất của bạn: Thành viên họp danh có phải góp vốn không?

Việc góp vốn của thành viên được quy định tại Điều 173 Luật doanh nghiệp 2014 như sau:

1. Thành viên hợp danh và thành viên góp vốn phải góp đủ và đúng hạn số vốn như đã cam kết.

2. Thành viên hợp danh không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết gây thiệt hại cho công ty phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho công ty.

3. Trường hợp có thành viên góp vốn không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết thì số vốn chưa góp đủ được coi là khoản nợ của thành viên đó đối với công ty; trong trường hợp này, thành viên góp vốn có liên quan có thể bị khai trừ khỏi công ty theo quyết định của Hội đồng thành viên.

4. Tại thời điểm góp đủ vốn như đã cam kết, thành viên được cấp giấy chứng nhận phần vốn góp. Giấy chứng nhận phần vốn góp phải có các nội dung chủ yếu sau đây:

a) Tên, mã số doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính của công ty;

b) Vốn điều lệ của công ty;hợp pháp khác của thành viên; loại thành viên;

d) Giá trị phần vốn góp và loại tài sản góp vốn của thành viên;

đ) Số và ngày cấp giấy chứng nhận phần vốn góp;

e) Quyền và nghĩa vụ của người sở hữu giấy chứng nhận phần vốn góp;

g) Họ, tên, chữ ký của người sở hữu giấy chứng nhận phần vốn góp và của các thành viên hợp danh của công ty.

5. Trường hợp giấy chứng nhận phần vốn góp bị mất, bị hủy hoại, bị hư hỏng hoặc bị tiêu hủy dưới hình thức khác, thành viên được công ty cấp lại giấy chứng nhận phần vốn góp.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Luật doanh nghiệp 2014 thì thành viên hợp danh phải góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết góp. Ngoài ra cũng theoq quy định tại khoản 2 Điều này nếu như thành viên hợp danh không góp đủ số vốn đã cam kết góp mà gây thiệt hại cho công ty còn phải có trách nhiệm bồi thường. Như vậy, thành viên hợp danh hoàn toàn phải góp vốn.

Đối với câu hỏi thứ hai của bạn: theo khoản 1 Điều 175 và khoản 3 Điều 175 Luật doanh nghiệp 2014 có ghi là có sự thỏa thuận và đồng ý của các thành viên còn lại. Vậy là tất cả các thành viên còn lại hay chỉ ba phần tư thành viên đồng ý?

Theo Luật doanh nghiệp 2014 quy định về việc hạn chế quyền đối với thành viên hợp danh như sau:

1. Thành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác, trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại.

2. Thành viên hợp danh không được quyền nhân danh cá nhân hoặc nhân danh người khác thực hiện kinh doanh cùng ngành, nghề kinh doanh của công ty đó để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác.

3. Thành viên hợp danh không được quyền chuyển một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác nếu không được sự chấp thuận của các thành viên hợp danh còn lại.

Theo luật doanh nghiệp, Chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình vô hạn(không chỉ trong phạm vi số vốn đã góp). Bên cạnh đó, thành viên công ty hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn và liên dới trách nhiệm với các thành viên hợp danh còn lại với các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản của công ty. Do đó, nghĩa vụ của thành viên hợp danh có thể ảnh hưởng đến quyền và lơi ích của các thành viên hợp danh khác. Chính vì vậy, luật doanh nghiệp không cho phép thành viên hợp danh được làm chủ sở hữu doanh nghiệp và thành viên hợp danh của công ty hợ danh khác nếu không có sự đồng ý của các thành viên hợp danh còn lại.

Thứ hai, công ty hợp danh là mô hình công ty đối nhân. Các hành viên hợp danh trong công ty hợp tác cùng thành lập công ty dựa trên sự quen biết và tin tưởng lẫn nhau. Uy tín và lợi ích của công ty gắn liền với lợi ích và uy tín của các thành viên hợp danh. Vì vậy, pháp luật nước ta không cho phép thành viên hợp danh được tự ý chuyển nhượng phần vốn góp.

Từ sự phân tích nêu trên, thành viê hợp danh khi muốn làm chủ một doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác hay khi muốn chuyển đổi phần vốn góp của mình cho người khác thì cần phải có sự đồng y của tất cả các thành viên hợp danh còn lại vì điều này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của công ty hợp danh cũng như những thành viên hợp danh khác.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê