Vậy, em xin hỏi hóa đơn GTGT và hóa đơn bán hàng khác nhau ở chỗ nào? Doanh nghiệp có lợi ích gì khi nhận hai loại hóa đơn này? Làm thế nào để hộ kinh doanh có thể được sử dụng hóa đơn GTGT. Trân trọng!

Luật sư trả lời:

Căn cứ pháp lý

Thông tư 39/2014/TT-BTC về hóa đơn

Thông tư 219/2013/TT-BTC về thuế GTGT

Thông tư 78/2014/TT-BTC về thuế thu nhập doanh nghiệp

Thông tư 156/2013/TT-BTC về quản lý thuế

Nội dung tư vấn

Hóa đơn là một loại chứng từ kế toán biểu hiện mối quan hệ về thương mại, kinh tế giữa bên bán hàng, cung ứng dịch vụ với bên mua hàng, bên sử dụng dịch vụ, là bằng chứng xác nhận về quyền và nghĩa vụ của các bên trong các nghiệp vụ về thuế, kế toán phát sinh.

Hiện tại, hóa đơn được chia thành các loại sau:

- Hóa đơn GTGT

- Hóa đơn bán hàng

- Hóa đơn khác gồm: tem; vé; thẻ; phiếu thu tiền bảo hiểm…

- Phiếu thu tiền cước vận chuyển hàng không; chứng từ thu cước phí vận tải quốc tế; chứng từ thu phí dịch vụ ngân hàng…, hình thức và nội dung được lập theo thông lệ quốc tế và các quy định của pháp luật có liên quan.

Căn cứ theo quy định tại khoản 2, Điều 3 Thông tư 39/2014/TT-BTC được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 5 Thông tư 119/2014/TT-BTC:

"2. Các loại hóa đơn:

a) Hóa đơn giá trị gia tăng (mẫu số 3.1 Phụ lục 3 và mẫu số 5.1 Phụ lục 5 ban hành kèm theo Thông tư này) là loại hóa đơn dành cho các tổ chức khai, tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ trong các hoạt động sau:

- Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trong nội địa;

- Hoạt động vận tải quốc tế;

- Xuất vào khu phi thuế quan và các trường hợp được coi như xuất khẩu;

b) Hóa đơn bán hàng dùng cho các đối tượng sau đây:

- Tổ chức, cá nhân khai, tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp khi bán hàng hóa, dịch vụ trong nội địa, xuất vào khu phi thuế quan và các trường hợp được coi như xuất khẩu (mẫu số 3.2 Phụ lục 3 và mẫu số 5.2 Phụ lục 5 ban hành kèm theo Thông tư này).

- Tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ vào nội địa và khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ giữa các tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan với nhau, trên hóa đơn ghi rõ “Dành cho tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan” (mẫu số 5.3 Phụ lục 5 ban hành kèm theo Thông tư này)...."

Theo đó, tổ chức khai và tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ mới được phép sử dụng hóa đơn GTGT để xuất cho người mua khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Tổ chức, cá nhân khai và tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp khi bán hàng hóa, dịch vụ thì sẽ sử dụng hóa đơn bán hàng. Do đó, hóa đơn GTGT và hóa đơn bán hàng khác nhau theo phương pháp kê khai, nộp thuế của người nộp thuế.

Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Thông tư 219/2013/TT-BTC, điều kiện cần để doanh nghiệp được khấu trừ thuế GTGT đầu vào là phải có hóa đơn GTGT. Do đó, với hóa đơn bán hàng, người bán vẫn nộp thuế GTGT nhưng người mua lại không được khấu trừ thuế GTGT.

Tại điểm a, khoản 3, Điều 11 Thông tư 156/2013/TT-BTC hướng dẫn cụ thể như sau:

"Đối tượng khai thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ là người nộp thuế tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế theo quy định của pháp luật về thuế GTGT."

Và hướng dẫn tại khoản 1 Điều 12 Thông tư 219/2013/TT-BTC:

"Điều 12. Phương pháp khấu trừ thuế

1. Phương pháp khấu trừ thuế áp dụng đối với cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từbao gồm:

a) Cơ sở kinh doanh đang hoạt động có doanh thu hàng năm từ bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ từ một tỷ đồng trở lên và thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từ, trừ hộ, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp hướng dẫn tại Điều 13 Thông tư này;

b) Cơ sở kinh doanh đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế, trừ hộ, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp hướng dẫn tại Điều 13 Thông tư này;

c) Tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp hàng hóa, dịch vụ để tiến hành hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển và khai thác dầu, khí nộp thuế theo phương pháp khấu trừ do bên Việt Nam kê khai khấu trừ nộp thay."

Như vậy, hộ kinh doanh không phải là đối tượng kê khai, nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ nên cũng không được phép sử dụng hóa đơn giá trị gia tăng. Mặt khác, theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 11 Thông tư 39/2014/TT-BTC, hộ kinh doanh cá thể là đối tượng mua hóa đơn của cơ quan thuế nên cơ quan thuế sẽ quyết định về loại hóa đơn bán cho hộ kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật là hóa đơn bán hàng, do hộ kinh doanh nộp thuế theo phương thức khoán và phương pháp trực tiếp trên doanh thu theo hóa đơn (căn cứ theo hướng dẫn tại Thông tư 92/2015/TT-BTC.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Chuyên viên tư vấn pháp luật Ngô Trang - Công ty luật Minh Khuê