Hiện công ty tôi đang trong tình trạng là chủ tịch hội đồng quản trị đang đứng tên giám đốc 1 công ty khác nên không chịu họp để bầu giám đốc khác thay tôi (vì nếu tôi không làm giám đốc thì công ty không hoạt động được do thành viên còn lại không tham gia vào hoạt động của công ty).

Xin hỏi luật sư trong tình thế của tôi hiện tại tôi phải làm gì để thôi không giữ chức giám đốc nữa mà không cần quan tâm xem chủ tịch hội đồng quản trị có chịu tổ chức họp bãi nhiệm giám đốc cho tôi không ?

Cảm ơn luật sư!

 Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật doanh nghiệp của công ty luật Minh Khuê.

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp xin được tư vấn cho bạn như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật doanh nghiệp năm 2014;

2. Nội dung tư vấn:

Theo thông tin bạn cung cấp, chúng tôi nhận thấy một số vấn đề sau: 

Mô hình công ty bạn là công ty cổ phần với số lượng cổ đông tối tiểu là 3; số lượng cổ đông công ty bạn hiện nay là 3, đáp ứng mức tối thiểu theo quy định của Luật. Bạn không muốn nghỉ việc tại công ty, thôi giữ chức vụ Giám đốc công ty. Do thông tin bạn cung cấp chưa đầy đủ rằng bạn chỉ muốn thôi giữ chức vụ giám đốc công ty hay không muốn làm đồng chủ sở hữu của công ty và thôi giữ chức vụ giám đốc công ty.Bởi mỗi trường hợp sẽ có những hậu quả pháp lý khác nhau. Cụ thể như sau:

- Nếu bạn muốn nghỉ việc tại công ty không muốn giữ chức vụ giám đốc thì bạn vẫn là đồng chủ sở hữu và công ty không phải chuyển đổi mô hình doanh nghiệp.

Trong trường hợp này, muốn thôi giữ chức vụ giám đốc phải có quyết định  miễn nhiệm của Hội đồng quản trị. Theo thông tin anh cung cấp thì chủ tịch hội đồng quản trị không chịu họp để thảo luận cho nên anh cần làm như sau:

Điều 153. Cuộc họp Hội đồng quản trị
.......................................... 

2. Hội đồng quản trị có thể họp định kỳ hoặc bất thường. Hội đồng quản trị họp tại trụ sở chính của công ty hoặc ở nơi khác.

3. Cuộc họp của Hội đồng quản trị do Chủ tịch Hội đồng quản trị triệu tập khi xét thấy cần thiết, nhưng mỗi quý phải họp ít nhất một lần.

4. Chủ tịch Hội đồng quản trị phải triệu tập họp Hội đồng quản trị khi có một trong các trường hợp sau đây:

a) Có đề nghị của Ban kiểm soát hoặc thành viên độc lập;

b) Có đề nghị của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc hoặc ít nhất 05 người quản lý khác;

c) Có đề nghị của ít nhất 02 thành viên điều hành của Hội đồng quản trị;

d) Các trường hợp khác do Điều lệ công ty quy định.

Đề nghị phải được lập thành văn bản, trong đó nêu rõ mục đích, vấn đề cần thảo luận và quyết định thuộc thẩm quyền của Hội đồng quản trị.

5. Chủ tịch Hội đồng quản trị phải triệu tập họp Hội đồng quản trị trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị quy định tại khoản 4 Điều này. Trường hợp Chủ tịch không triệu tập họp Hội đồng quản trị theo đề nghị thì Chủ tịch phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại xảy ra đối với công ty; người đề nghị có quyền thay thế Hội đồng quản trị triệu tập họp Hội đồng quản trị.

Đầu tiên bạn hoặc những người khác theo quy định tại khoản 4 sẽ đề nghị Chủ tịch Hội đồng quản trị triệu tập cuộc họp, sau 07 ngày làm việc mà không triệu tập thì bạn có quyền triệu tập cuộc họp Hội đồng quản trị với tư cách là Giám đốc công ty. 

Cuộc họp chỉ được tiến hành khi đáp ứng được điều kiện theo quy định tại khoản 8-Điều 153: phải có ít nhất 3/4 tổng số thành viên Hội đồng quản trị dự họp, nếu không đáp ứng được thì có quyền triệu tập lần 2 trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày triệu tập lần 1. Trong trường hợp này cuộc họp sẽ được tiến hành khi có hơn một nửa số thành viên Hội đồng quản trị tham gia.

- Nếu bạn vừa muốn thôi giữ chức vụ giám đốc, vừa không muốn làm đổng chủ sở hữu thì công ty phải tiến hành đăng ký thay đổi mô hình doanh nghiệp.

Thông tin bạn cung cấp chưa đầy đủ là công ty bạn đã hoạt động trong thời gian bao lâu nên chúng tôi xin tư vấn như sau:

Về nguyên tắc, bạn không muốn làm đồng chủ sở hữu tức là muốn rút vốn ra khỏi công ty. Theo quy định của Luật doanh nghiệp có các cách thức rút vồn: yêu cầu công ty mua lại cổ phần; mua lại cổ phần theo quyết định của công ty và chuyển nhượng cổ phần. Trong những cách thức này bạn chỉ có thể sử dụng cách thức chuyển nhượng cổ phần. Cụ thể như sau:

+ Công ty bạn đã hoạt động trên ba năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp:

Trong trường hợp này bạn được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho bất kỳ ai. Nếu chuyển nhượng cho hai cổ đông còn lại thì công ty phải chuyển đổi mô hình doanh nghiệp. Nếu chuyển nhượng cho người khác thì người đó trở thành cổ đông công ty và công ty vẫn đáp ứng số lượng cổ đông tối thiểu nên không phải cuyển đổi mô hình doanh nghiệp.

+ Công ty hoạt động dưới 3 năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp:

Theo quy định tại Điều 119-Khoản 3 thì bạn chỉ được phép chuyển nhượng cổ phần phổ thông cho các cổ đông sáng lập còn lại (có nghĩa là công ty phải chuyển đổi mô hình doanh nghiệp) và chỉ được chuyển nhượng cho người khác không phải cổ đông sáng lập khi có sự đồng ý của Đại hội đồng cổ đông (có nghĩa là không phải chuyển đổi mô hình doanh nghiệp). Quy định này không áp dụng đối với cổ phần khác không phải là cổ phần phổ thông mà bạn có được sau khi công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê