Trước hết, việc một đạo luật do cơ quan lập pháp ban hành phải chờ quyết định của hành pháp (Chính phủ) mới có giá trị thực hiện là một hạn chế nghiêm trọng quyền lực của lập pháp, đồng thời mở ra các khả năng lạm dụng quyền lực hành pháp qua việc cơ quan này có thể kéo dài hoặc rút ngắn một cách có chủ đích hiệu lực trên thực tế của điều luật.

Thứ hai, các nghị định, thông tư hướng dẫn của chính phủ không chỉ là những hướng dẫn thi hành, mà còn là những qui định mang tính chất chuẩn mực pháp lý. Nghĩa là chúng sẽ là chuẩn mực, là cơ sở cho Tòa án xét xử. Như vậy, trên thực tế, thẩm quyền của Tư pháp cũng đã chuyển qua cơ quan hành pháp. Rõ ràng thực tế hoạt động xây dựng Nhà nước pháp quyền ở ta với thói quen ban hành các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành luật đã không củng cố được cơ chế cân bằng, kiểm soát và giới hạn quyền lực Nhà nước, mà còn mở ra nhiều khả năng lạm dụng quyền lực hơn.

>> Luật sư tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp trực tuyến gọi số: 1900 6162

 

Trên nguyên tắc, Chính phủ không có thẩm quyền và nhiệm vụ hướng dẫn thi hành luật. Tuy nhiên, cho nội bộ cơ quan hành pháp, chính phủ hoàn toàn có quyền ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành luật theo quan điểm của mình. Nhưng phải nhấn mạnh rằng, những văn bản này chỉ có giá trị pháp lý đối nội trong nội bộ chính phủ và các cơ quan công quyền chứ không có giá trị chuẩn mực pháp lý chung. Nghĩa là, nếu một cơ quan công quyền bị khởi kiện trước tòa án thì các hướng dẫn thi hành của chính phủ cũng chỉ có gía trị như ý kiến riêng của một bên tham gia tranh tụng mà thôi, chứ không phải là cơ sở pháp lý để tòa án xem xét.

Cần phân biệt rõ chức năng, thẩm quyền ban hành luật, nghị định, qui định, văn bản dưới luật của chính phủ với việc ban hành qui định hướng dẫn thi hành luật của cơ quan này. Để giảm bớt gánh nặng cho cơ quan lập pháp và đáp ứng kịp thời những đòi hỏi luôn biến động của của xã hội, cơ quan hành pháp cũng có thể đảm nhận việc ban hành luật, nghị định, qui định, văn bản dưới luật có giá trị chuẩn mực pháp lý chung: bộ giáo dục có thể ban hành Luật tổ chức trường đại học, thậm chí cả Luật Giáo dục. Với điều kiện cơ quan hành pháp phải được sự ủy quyền của cơ quan lập pháp qua một bộ luật ủy quyền do quốc hội thông qua. Có lẽ do không phân biệt rõ ràng chức năng ban hành luật, văn bản dưới luật và thẩm quyền lý giải hướng dẫn thi hành luật mà chúng ta mới giao luôn cho cơ quan hành pháp một loại quyền lực siêu quyền hạn bao gồm cả hoạt động lập pháp lẫn tư pháp như việc ban hành thông tư, nghị định hướng dẫn thi hành luật.

Hậu qủa của việc giao cho chính phủ quyền ban hành nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành luật, ngoài việc phi phạm nghiêm trọng nguyên tắc Nhà nước pháp quyền nói chung, vi phạm nguyên tắc cân bằng, kiểm tra, kiểm soát và giới hạn quyền lực tối cao, còn dẫn đến rất nhiều bất lợi khác trong việc thực thi pháp luật trong thực tế:

- Mở rộng khả năng lạm quyền của cơ quan hành pháp qua việc có thể tự ý kéo dài hoặc rút ngắn thời gian có hiệu lực-trong thực tế- của điều luật, cũng như qua việc can thiệp vào qúa trình xét xử của tòa án.

- Tạo tắc nghẽn trong vận dụng điều luật vào thực tế. Chúng ta có thể thấy rất rõ là các bộ hay liên bộ được giao soạn thảo nghị định hướng dẫn thi hành bao giờ cũng có xu hướng lý giải điều luật đó sao cho nó đối với họ là thuận tiện nhất. Trong trường hợp do liên bộ soạn thảo thì điều này trước hết sẽ là sự thỏa hiệp quyền lợi của các cơ quan đó và vì vậy trong nhiều trường hợp sự thỏa hiệp này rất dễ đi trệch với mục đích, ý nghĩa của điều luật theo quan điểm của cơ quan lập pháp. Cuối cùng, theo thời gian, việc lý giải và hướng dẫn thi hành không do một mà là nhiều cơ quan công quyền khác nhau thực hiện như vậy cũng dẫn đến tình trạng một điều luật do bộ này hướng dẫn thực hiện không kết hợp được một cách hữu cơ với các điều luật liên quan đến nó nhưng do các bộ khác hướng dẫn thực hiện. Điều này cũng là một trong các nguyên nhân chính gây ra tình trạng mà chúng ta thường nói một cách rất lịch sự là: tính không đồng bộ của hệ thống pháp luật VN.

Việc chậm thi hành các bộ luật, điều luật được sửa đổi bổ sung cho hợp lòng dân, đáp ứng kịp thời đòi hỏi của thực tiễn chỉ vì phải chờ thông tư, nghị định hướng dẫn, không chỉ kéo dài thời gian người dân phải chịu thiệt thòi dẫn đến bức xúc, bất bình. Hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, chúng ta phải đương đầu với những thay đổi thường xuyên và nhanh đến chóng mặt của thị trường quốc tế ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân, đến môi trường đầu tư, đến sự ổn định xã hội. Quyết sách của Nhà nước, đặc biệt là những quyết sách liên quan đến an sinh xã hội, thuế, đầu tư nước ngoài, sẽ không thể pháp huy tác dụng-thậm chí có thể mất tác dụng- nếu không đáp ứng kịp thời đòi hỏi của thực tiễn. Vì vậy, rất nên lấy việc cương quyết từ bỏ “truyền thống“ ban hành thông tư, nghị định hướng dẫn thi hành luật làm mục tiêu cấp bách của cải cách tư pháp, cải cách hành chính.

SOURCE: THỜI BÁO KINH TẾ SÀI GÒN NGÀY 23 THÁNG 7 NĂM 2009 (BÀI ĐƯỢC ĐĂNG DƯỚI SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ) - GS.TS . NGUYỄN VÂN NAM