Nghị định này thay thế hàng loạt Nghị định của Chính phủ và các văn bản của Chính phủ đã ban hành liên quan đến quản lý tài chính của công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào DN khác.

Như vậy có thể nói Nghị định 199 là văn bản mới nhất về những vấn đề quản lý vốn nhà nước đang có hiệu lực.

Tuy nhiên một vấn đề đặt ra là liệu rằng Nghị định 199 có thể thực hiện được nhiệm vụ đổi mới cơ chế hành chính chủ quản hiện nay để thay thế bằng cơ chế chủ quản mới hay không? Hình bóng của cơ chế chủ quản mới là gì?

>> Luật sư tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp trực tuyến gọi số: 1900.6162

 

“Công ty hoá” các DNNN đúng với chuẩn mực công ty là không đơn giản vì cơ cấu và cách thức quản trị công ty có sự khác biệt về cơ bản so với quy định hiện hành về quản trị DNNN. Vấn đề cơ bản là sở hữu trong DNNN với cơ chế đại diện chủ sở hữu như hiện nay vẫn luôn rơi vào tình trạng “vô chủ”.

Ngay cả khi cổ phần hoá, Nhà nước chỉ còn giữ vai trò là cổ đông thì cái “cổ đông nhà nước” cũng không thể như cổ đông khác! Vì vốn vẫn không phải là của con người thực, như những cổ đông thể nhân khác! Cổ đông đó vẫn phải nghe lệnh của cấp trên!

Khi chuyển DNNN thành công ty TNHH 1 thành viên thì nhà nước vẫn giữ 100% vốn, vấn đề là ai giữ? Nếu không làm rõ vấn đề này thì vẫn xảy ra câu chuyện vô chủ như trước, nên việc chuyển đổi này chỉ là hình thức và gây lãng phí! Vậy khi chưa bán hết sở hữu nhà nước thì Nhà nước thực hiện nguyên tắc chủ quản mới như thế nào?

Về lý thuyết thì nguyên tắc chủ quản mới phải đảm bảo các đặc điểm được quy định tại Điều 168 Luật doanh nghiệp.

- Thực hiện quyền chủ sở hữu với vai trò là người đầu tư vốn nhà nước như những nhà đầu tư khác. Nhưng cái khác là làm thế nào để thực hiện chữ “như” này khi mà đồng tiền không thực sự là của con người thực.

- Bảo toàn và phát triển vốn nhà nước.

- Tách chức năng thực hiện quyền chủ sở hữu ra khỏi chức năng quản lý hành chính có nghĩa là phải tìm giải pháp lập một cơ quan ngang Bộ chuyên lo về kinh doanh. Mô hình Tổng Công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước sẽ thực hiện chức năng này. Với cách này sẽ đụng chạm tới các Bộ ngành khác và UBND các tỉnh đang quản lý vốn nhà nước tại DN! Việc bàn giao vốn đến nay vẫn chưa nhúc nhích.

- Tách chức năng thực hiện quyền chủ sở hữu với chức năng kinh doanh! Những người đại diện chủ sở hữu không trực tiếp quản lý điều hành DN! Trên thực tế rất khó tách 2 chức năng này!

- Thực hiện quyền sở hữu một cách tập trung và thống nhất và nguyên tắc một DN chỉ do tổ chức thực hiện quyền chủ sở hữu  tại DN tránh tình trạng  lắm cha con khó lấy chồng.

Trên thực tế việc thực hiện nguyên tắc chủ quản mới là không dễ dàng vì các lý do sau:

- Cách thức làm việc “tập thể” nhiều người có quyền nhưng không ai chịu trách nhiệm, thiếu niềm tin vào cá nhân, thiếu sự chịu trách nhiệm, thích quyền to nhưng không chịu trách nhiệm gì!

-  Thiếu cán bộ quản trị kinh doanh phù hợp, nguy cơ trao quyền cho người không đủ năng lực.

-   Sự thay đổi trên sẽ động chạm tới cơ chế lợi ích hiện nay.

Vấn đề cần trao đổi là Nghị định 199/2004/NĐ-CP đã thể hiện những đổi mới về cơ chế chủ quản mới như thế nào! Nội dung cần xác định ai là chủ thể đại diện quyền sở hữu nhà nước.

Nghị định 199/2004 có đề cập tới việc chuyển giao vốn nhà nước về Tổng Công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước.

Chương IV: Quản lý vốn nhà nước đầu tư vào DN về ý tưởng của chương này là phải tập trung việc quản lý vốn nhà nước đầu tư và kinh doanh vào Tổng Công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước. Trong khi chưa chuyển giao cho Tổng Công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước thì quy định về đại diện chủ sở hữu vẫn chưa có gì thay đổi.

Khoản 6 Điều 44. Nghị định 199 quy định các Bộ, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm chuyển giao nhiệm vụ quản lý vốn nhà nước tại DN khác cho Tổng Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước theo quyết định và lịch trình của Thủ tướng Chính phủ.

Chức năng của Tổng Công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước là đại diện chủ sở hữu  vốn nhà nước của tất cả các loại vốn ở các loại công ty do Bộ ngành, địa phương chuyển giao.

Tuy nhiên tại Khoản 3 Điều 44 quy định UBND cấp tỉnh trong thời gian chưa chuyển giao cho Tổng Công ty đầu tư kinh doanh vốn nhà nước là đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước ở các công ty TNHH 1 thành viên, vốn nhà nước ở DN khác do ngân sách địa phương đầu tư góp vốn, vốn nhà nước ở công ty cổ phần do UBND cấp tỉnh quy định thành lập thực hiện cổ phần hoá toàn bộ, vốn nhà nước ở công ty liên doanh do công ty nhà nước góp toàn bộ vốn vào liên doanh mà không còn pháp nhân công ty nhà nước.

Với quy định này thì các công ty nhà nước đã cổ phần hoá một bộ phận sẽ vẫn là đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước đầu tư vào công ty cổ phần do cổ phần hoá một bộ phận. Về lý thuyết và thực tế quy định này tạo nên một số bất ổn như sau:

- Thứ nhất khi cổ phần hoá một bộ phận thì bộ phận này không ảnh hưởng gì tới hoạt động của công ty và như vậy hoàn toàn có thể độc lập tách rời công ty cổ phần khỏi công ty nhà nước và uỷ ban có thể áp dụng quy chế quản lý vốn như những công ty nhà nước cổ phần hoá toàn bộ. Việc thiếu quy định giao cho UBND quản lý số vốn này tạo ra kẽ hở cho việc quản lý vốn nhà nước không tập trung, bị phân tán cho nhiều công ty nhà nước.

- Thứ hai, có thể lạm dụng việc tái cơ cấu, sáp nhập các công ty nhà nước thuộc quyền để tiếp tục cổ phần hoá tạo nên cổ phần hoá lồng ghép và tạo ra cơ hội để vụ lợi cho những người có lợi ích từ công ty nhà nước do việc cố tình quên không đấu giá công khai cổ phần của công ty cổ phần đã cổ phần hoá từ một bộ phận DNNN trước đây vì giá trị của cổ phần này vẫn được kê nguyên giá gốc. Với cách này họ có thể biến vốn nhà nước thành vốn của công ty cổ phần.

- Thứ ba, khi bàn giao với Tổng Công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước thì UBND tỉnh là người bàn giao và số vốn nhà nước tại công ty cổ phần do cổ phần hoá một bộ phận đã bị tính vào vốn của công ty cổ phần. Do hiệu quả của cổ phần hoá lồng ghép và nhà nước sẽ không kiểm soát được dòng vốn cụ thể của nhà nước đang nằm ở đâu, phát huy tác dụng ra sao.

Từ những thực tế không minh bạch trong việc quản lý vốn đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước, nên sớm có một nghị định mới thay thế Nghị định 187/2004/NĐ-CP và Nghị định 199/2004/NĐ-CP.

- Đẩy mạnh cổ phần hoá DNNN một cách công khai minh bạch theo khả năng mua của thị trường. Nhà nước chỉ giữ lại những cổ phần không có người mua và sẵn sàng bán tiếp.

- Phần vốn nhà nước còn lại sẽ được thu hẹp, khi đó nhanh chóng giao cho Tổng Công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước quản lý. Nhà nước sẽ dần thoát khỏi vai trò là người đầu tư và kinh doanh chỉ còn đóng vai trò là người quản lý xã hội.

Tác giả: Luật gia Cao Bá Khoát

MKLAW FIRM Sưu tầm & Biên tập