2. Điều này có cần thiết không khi giữa 2 loại Hợp đồng này có nhiều điểm tương đồng nhau?

3. Việt Nam chưa trở thành thành viên của Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế, vậy khi thực hiện giao dịch Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có 1 bên là thương nhân Việt Nam thì Hợp đồng này phải tuân thủ theo quy định luật Việt Nam hay Công ước Viên?

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê

Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Kính thư                                                             

Người gửi: Nguyễn Thị Tuyết Mai

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900 6162

Tư vấn đàm phán, soạn thảo hợp đồng?

Tư vấn đàm phán, soạn thảo hợp đồng 

 

Trả lời:

1. Căn cứ pháp lý:

- Luật Thương mại năm 2005

- Bộ Luật Dân sự năm 2005

2. Nội dung phân tích

2.1. Vì sao phải phân chia thành Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế với Hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước (Hợp đồng mua bán hàng hóa theo luật thương mại Việt Nam 2005)?

Cần phải có sự phân chia thành hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế với hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước(Hợp đồng mua bán hàng hóa theo luật thương mại năm 2005) vì:

Thứ nhất: Hai loại hợp đồng trên có khá nhiều điểm khác biệt nhau về bản chất, được thể hiện ngay từ tên hợp đồng. Một bên là việc mua bán, trao đổi hàng hóa giữa các thương nhân trong cùng một nước(hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước), một bên là việc mua bán trao đổi hàng hóa mang tính quốc tế tức là sẽ có một trong các yếu tố như:   chủ thể, hay đối tượng  của hợp đồng sẽ mang tính quốc tế- không cùng một nước. Ngoài ra, còn một số điểm khác biệt cơ bản khác như: đồng tiền thanh toán, luật điều chỉnh quan hệ mua bán, về cơ quan giải quyết tranh chấp...

Thứ hai: Việc phân định thành 2 loại hợp đòng trên sẽ giúp làm rõ đối tượng, chủ thể cũng như nguồn luật sẽ được áp dụng khi xảy ra tranh chấp nếu có và sẽ giúp các bên có liên quan có thể chủ động hơn trong việc áp dụng pháp luật vào quan hệ hợp đồng mà mình tham gia. Từ đó giảm thiểu tình trạng áp dụng sai, áp dụng không đúng pháp luật dẫn đến nhiều hậu quả không mong muốn.

2.2. Điều này có cần thiết không khi giữa 2 loại Hợp đồng này có nhiều điểm tương đồng nhau?

Đầu tiên, việc phân tích và so sánh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế với hợp đồng mua bán trong nước( quy định tại Luật Thương mại 2005) là hết sức cần thiết. Không chỉ bởi 2 loại hợp đồng trên có khá nhiều điểm khác biệt mà còn bởi nhu cầu cấp thiết hiện nay đó là xu thế hội nhập quốc tế. Trong quá trình hội nhập, hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế hay còn gọi là hoạt động ngoại thương đang giữ một vai trò hết sức quan trọng đối với nền kinh tế. Chính vì vậy mà việc nghiên cứu, tìm hiểu và nắm rõ kiến thức về mua bán hàng hóa quốc tế trở nên hết sức quan trọng và cần thiết. Nó không chỉ nhằm mục đích đơn thuần là chỉ ra sự khác biệt của 2 loại mua bán mà nó còn làm nổi bật những đặc điểm chủ yếu của mua bán hàng hóa quốc tế, từ đó sẽ giúp cho công việc mua bán hàng hóa diễn ra trôi chảy đồng thời sẽ giúp ích rất lớn trong việc phòng ngừa những rủi ro không đáng có trong quá trình hội nhập.

Chính vì vậy mà việc bạn hỏi việc phân tích và so sánh 2 loại hợp đồng trên có cần thiết hay không vì chúng có nhiều điểm tương đồng thì chúng tôi xin trả lời là cần thiết phải phân tích và so sánh sự khác biệt giữa 2 loại hợp đồng này.

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng như Hợp đồng mua bán hàng hóa  trong nước đều có nội dung, hình thức và đặc điểm tương đồng nhau như hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung. Cụ thể:

Thứ nhất, về nội dung thì Hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung là các điều khoản do các bên thỏa thuận, thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng.

Thứ hai, về hình thức, theo Điều 24 Luật Thương mại Việt Nam 2005, hai loại hợp đồng trên đều có hình thức tương đương Hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung: "1. Hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói,  bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể; 2. Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hóa mà pháp luật quy định phải được lập bằng văn bản thì phải tuân theo các quy định đó.

Thứ ba, về đặc điểm, hai loại hợp đồng này đều là hợp đồng ưng thuận, có tính đền bù và là hợp đồng song vụ.

Tuy nhiên, căn cứ vào đặc điểm chủ thể, đối tượng, nơi giao kết hợp đồng mà phân ra thành Hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước và Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Trong Luật Thương mại Việt Nam 2005 không có quy định cụ thể về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, nhưng căn cứ theo Điều 826 thuộc Phần thứ 7 về "Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài" của Bộ Luật Dân Sự 2005 thì một hợp đồng mua bán hàng hóa được coi là Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế khi có một trong những yếu tố sau: 

- Về chủ thể, hợp đồng được giao kết bởi các bên không cùng quốc tịch (Giữa một bên có quốc tịch Việt Nam và một bên có quốc tịch khác).

- Về đối tượng, hàng hóa là đối tượng của hợp đồng đang tồn tại ngoài lãnh thổ Việt Nam.

- Về nơi giao kết hợp đồng, hợp đồng được giao kết tại nước ngoài, có thể là tại nước của bên giao kết mang quốc tịch khác Việt Nam, hoặc tại nước thứ ba. 

Dựa vào những yếu tố trên, có thể thấy, với Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thì các bên giao kết hợp đồng rất dễ gặp phải các rủi ro như xung đột pháp luật giữa hai bên thực hiện hợp đồng, hoặc do các rủi ro khác trong quá trình vận chuyển, thanh toán,... dẫn đến những tranh chấp. Chính vì thế, khi giao kết hợp đồng, các bên cần cân nhắc kĩ lưỡng và soạn thảo ra một bản hợp đồng chi tiết và rõ ràng để tránh những rủi ro trong tương lai. Nên việc quy định và phân loại đối với hai loại hợp đồng trên là điều cần thiết. Về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Luật Thương Mại Việt Nam 2005 cũng quy định rõ tại khoản 2 Điều 27 như sau: "Mua bán hàng hoá quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.

2.3. Việt Nam chưa trở thành thành viên của Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế, vậy khi thực hiện giao dịch Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có 1 bên là thương nhân Việt Nam thì Hợp đồng này phải tuân thủ theo quy định luật Việt Nam hay Công ước Viên?

Trong Luật Thương Mại Việt Nam 2005 chưa có quy định cụ thể về việc sẽ phải áp dụng, tuân thủ quy định pháp luật nào khi giao kết Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Tuy nhiên căn cứ theo Điều 834 Bộ Luật Dân sự 2005 về Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, Luật Minh Khuê có thể giải đáp như sau:

- Hình thức của hợp đồng sẽ phải tuân theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng. Trong trường hợp hợp đồng được giao kết ở nước ngoài mà vi phạm hình thức hợp đồng, thì vẫn có hiệu lực về hình thức hợp đồng tại Việt Nam, nếu hình thức hợp đồng đó không trái với quy định pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

- Quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng cũng sẽ được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thỏa thuận khác. Trong trường hợp hợp đồng không ghi rõ nơi thực hiện hợp đồng, thì việc xác định nơi thực hiện hợp đồng phải tuân theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Như vậy, với việc Việt Nam hiện chưa trở thành thành viên của Công ước Viên 1980 (CISG) về mua bán hàng hóa quốc tế, nên việc thực hiện giao dịch Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có 1 bên là thương nhân Việt Nam thì Hợp đồng này có thể sẽ phải tuân thủ theo quy định pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật của nước bên chủ thể giao kết còn lại. Hoặc vẫn có thể sẽ phải tuân theo quy định của Công ước Viên nếu hợp đồng được giao kết tại nước của bên chủ thể giao kết còn lại (không phải Việt Nam) là thành viên của Công ước Viên và luật được áp dụng đối với việc thực hiện hợp đồng là luật của nước này có dẫn chiếu đến Công ước Viên, cụ thể tại điểm b, khoản 1 Điều 1 Công ước Viên 1980 có quy định về điều này.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê