Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Doanh nghiệp của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Doanh nghiệp, gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật Doanh nghiệp 2014;

Bộ Luật Dân sự 2015

2. Luật sư tư vấn:

Theo quy định của Luật doanh nghiệp, góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty, trong đó bao gồm góp vốn để thành lập doanh nghiệp và góp thêm vốn điều lệ của doanh nghiệp đã thành lập. Trong nội dung câu hỏi của bạn, bài viết này sẽ tập trung vào việc góp vốn khi thành lập doanh nghiệp.

Việc góp vốn theo quy định trên là việc góp tài sản, theo quy định của Bộ luật Dân sự, tại Điều 105 quy định về tài sản như sau:

Điều 105. Tài sản

1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.

2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.

Khi thành lập doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức có thể góp vốn bằng những tài sản theo quy định trên và cụ thể tài sản gióp vốn được ghi nhận trong Luật doanh nghiệp bao gồm những tài sản sau:

Điều 35. Tài sản góp vốn

1. Tài sản góp vốn có thể là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam.

2. Quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng để góp vốn bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và các quyền sở hữu trí tuệ khác theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ. Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp đối với các quyền nói trên mới có quyền sử dụng các tài sản đó để góp vốn.

Quy định của Bộ luật Dân sự là quy định chung về tài sản, và Luật doanh nghiệp đã cụ thể hóa những tài sản đó khi thực hiện góp thành lập doanh nghiệp, theo đó:

- Đối với tài sản là tiền thì khi thành lập doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức góp vốn có thể góp bằng Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển nhượng.

- Những tài sản khác mà cá nhân, tổ chức có thể góp vốn bao gồm: vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng đồng Việt Nam. Có thể là máy móc, trang thiết bị, cơ sở vật chất khác,...

- Đặc biệt, quyền sở hữu trí tuệ là một loại tài sản được dùng để góp vốn khi thành lập doanh nghiệp và giá trị của loại tài sản này khi định giá thường gặp nhiều khó khăn. Quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng để góp vốn theo quy định trên bao gồm:

Quyền tác giả: là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu;

Quyền liên quan đến quyền tác giả: là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa;

Quyền sở hữu công nghiệp: là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh;

Quyền đối với giống cây trồng: là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu;

Và các quyền sở hữu trí tuệ khác theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ. Việc góp vốn là quyền sở hữu trí tuệ thì chủ thể góp vốn phải là chủ sở hữu hợp pháp đối với các quyền nói trên.

Như vậy, từ những quy định trên có thấy rằng kinh nghiệm quản lý không thuộc một trong các loại tài sản góp vốn đã được liệt kê bên trên, và bản chất kinh nghiệm quản lý không phải là tài sản do đó không được sử dụng kinh nghiệm quản lý để góp vốn.

Đối với bất động sản ( cụ thể là nhà, quyền sử dụng đất) dùng để góp vốn thì cần lưu ý một số vấn để như sau:

- Tài sản là nhà, quyền sử dụng đất đó phải đủ điều kiện để thực hiện góp vốn, chuyển nhượng theo quy định của Luật Đất đai, Luật nhà ở đối với quyền sử dụng đất, nhà đưa được phép chuyển nhượng, góp vốn.

- Khi xác định quyền của chủ thể góp vốn, phải lưu ý đến hình thức sở hữu tài sản, tài sản đó là tài sản sở hữu riêng của người thực trực tiếp góp vốn hay đang thuộc sở hữu chung của vợ, chồng, một nhóm người, hay đang trong quan hệ thừa kế chưa chia,...

- Khi nhận tài sản góp vốn là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở thì phải thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn đó từ người góp vốn cho doanh nghiệp đối với doanh nghiệp là công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, công ty cổ phần theo quy định cụ thể tại Điều 35 Luật Doanh nghiêp.

Điều 36. Chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn

1. Thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và cổ đông công ty cổ phần phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty theo quy định sau đây:

a) Đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Việc chuyển quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn không phải chịu lệ phí trước bạ;

- Ngoài ra, đối với những tài sản không phải là tiền, vàng, giấy tờ có giá thì trước khi nhận tài sản cần tiến hành định giá tài sản theo quy định tại Điều 37 Luật Doanh nghiệp như sau:

Điều 37. Định giá tài sản góp vốn

1. Tài sản góp vốn không phải là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá và được thể hiện thành Đồng Việt Nam.

2. Tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp phải được các thành viên, cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí hoặc do một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá. Trường hợp tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được đa số các thành viên, cổ đông sáng lập chấp thuận.

Trường hợp tài sản góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì các thành viên, cổ đông sáng lập cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Doanh nghiệp - Công ty Minh Khuê