Nếu thiếu một trong hai điều kiện thì quyết định của Đại hội đồng cổ đông không có giá trị pháp lý. Vì vậy, nếu vi phạm trình tự, thủ tục thì quyết định của Đại hội đồng cổ đông không hợp pháp.
>> Tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp gọi số: 1900 6162

Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp 2005 quy định một trường hợp ngoại lệ tại Khoản 4 Điều 104 như sau: “Các quyết định được thông qua tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông với số cổ đông trực tiếp và uỷ quyền tham dự đại diện 100% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết là hợp pháp và có hiệu lực ngay cả khi trình tự và thủ tục triệu tập, nội dung chương trình họp và thể thức tiến hành họp không được thực hiện đúng như quy định”.

Hiện nay, quy định tại Khoản 4 Điều 104 Luật Doanh nghiệp 2005 được hiểu khác nhau. Ý kiến thứ nhất cho rằng phải có 100% cổ đông có quyền biểu quyết dự họp và 100% cổ đông dự họp biểu quyết đồng ý thì không quan tâm tới trình tự, thủ tục. Ý kiến thứ hai cho rằng chỉ cần 100% cổ đông đến dự họp đã đủ để không cần quan tâm tới trình tự, thủ tục; còn tỷ lệ biểu quyết vẫn là 65% (nếu là vấn đề thông thường) hoặc 75% (nếu là vấn đề quan trọng).

Xem xét kỹ quy định có thể thấy ý kiến thứ hai là hợp lý và phản ánh đúng nội dung của Khoản 4 Điều 104 Luật Doanh nghiệp 2005 vì mục đích của trình tự, thủ tục là để bảo đảm quyền dự họp và biểu quyết của cổ đông không bị xâm phạm. Nếu tất cả cổ đông đến dự họp đầy đủ thì quyền dự họp và biểu quyết của cổ đông đã được đảm bảo. Do đó, tỷ lệ biểu quyết thông qua tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông vẫn áp dụng tỷ lệ 65% hoặc 75% như quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 và Điều lệ công ty.

Tình huống: Công ty X là cổ đông sở hữu 36,1% cổ phần phổ thông của công ty cổ phần A. Công ty cổ phần A có ký một hợp đồng mua bán hàng hóa với công ty X. Hợp đồng này cần phải được Đại hội đồng cổ đông của công ty cổ phần A thông qua theo quy định tại Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2005. Ngày 25/10/2007, Đại hội đồng cổ đông công ty cổ phần A được triệu tập để thông qua hợp đồng này. Cuộc họp có mặt 100% cổ phần có quyền biểu quyết. Vì cho rằng công ty X không có quyền biểu quyết nên người triệu tập cuộc họp Đại hội đồng cổ đông đã không được mời họp công ty X. Hợp đồng đã được thông qua với tỷ lệ 81% cổ phần có quyền biểu quyết có mặt tại cuộc họp đồng ý. Công ty X sau đó phát hiện thấy hợp đồng bất lợi cho mình đã khởi kiện ra Tòa án yêu cầu hủy bỏ quyết định của Đại hội đồng cổ đông vì vi phạm thủ tục (do không mời họp Công ty X).

Theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 79 Luật Doanh nghiệp 2005 thì cổ đông có quyền dự họp và biểu quyết tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông. Như vậy, mặc dù công ty X không có quyền biểu quyết nhưng vẫn có quyền dự họp nên người triệu tập cuộc họp Đại hội đồng cổ đông vẫn phải công ty X tham dự cuộc họp Đại hội đồng cổ đông. Cho nên việc người triệu tập cuộc họp Đại hội đồng cổ đông không mời công ty X dự họp là vi phạm trình tự, thủ tục của cuộc họp Đại hội đồng cổ đông.

Tuy nhiên, cuộc họp Đại hội đồng cổ đông trong tình huống trên đã có mặt 100% cổ phần có quyền biểu quyết nên theo Khoản 4 Điều 104 Luật Doanh nghiệp 2005, cuộc họp Đại hội đồng cổ đông trên mặc dù vi phạm trình tự, thủ tục (do không mời họp Công ty X) nhưng các quyết định được thông qua vẫn có hiệu lực pháp luật.

 

CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ biên tập