Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê
Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.
Kính thư
Người gửi: TM Thien

>> Luật sư tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp trực tuyến gọi số: 1900.1940

Tư vấn pháp luật doanh nghiệp ?

Tư vấn pháp luật doanh nghiệp - Ảnh minh họa

 

Trả lời:

Chào bạn! Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi đến công ty. Về vấn đề của bạn Công ty xin được giải đáp như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật dân sự năm 2005

- Luật doanh nghiệp năm 2005

2. Nội dung phân tích:

Về khái niệm pháp nhân và tổ chức:

Về tổ chức:

Theo định nghĩa trên hệ thống từ điển tratu.soha.vn thì Danh từ tổ chức được hiểu như sau:

Tập hợp người được tổ chức lại, hoạt động vì những quyền lợi chung, nhằm một mục đích chung

Về pháp nhân:

Căn cứ quy định tại Điều 84 Bộ luật dân sự thì:

" Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Được thành lập hợp pháp;

2. Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;

3. Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó;

4. Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập."

Như vậy, trước tiên bạn cần hiểu pháp nhân là một tổ chức có điều kiện theo quy định của pháp luật.

Về việc tham gia vào quan hệ thương mại, kinh doanh

Về điều kiện thành lập, hoạt động của pháp nhân được pháp luật quy định chặt chẽ. Cụ thể, Pháp nhân được quy định chặt chẽ trong chương IV Bộ luật dân sự từ việc thành lập, tên gọi, điều lệ và trách nhiệm dân sự. Trái lại, việc thành lập một tổ chức chủ yếu không bị ràng buộc bởi các quy định của pháp luật chủ yếu dựa trên sự thỏa thuận, tự nguyện của các thành viên, quá triình hoạt động của tổ chức chủ yếu xuất phát từ sự thống nhất của các thành viên.. Do vây, chúng tôi có thể nêu một số điểm giống và khác giữa pháp nhân và tổ chức không có tư cách pháp nhân khi tham gia quan hệ thương mại như sau:

Sự giống nhau:

Về cơ bản, Pháp nhân và tổ chức không có tư cách pháp nhân có cơ cấu tổ chức gồm nhiều thành viên, có bộ máy hoạt động và mục tiêu hoạt động rõ ràng. Các thành viên trong pháp nhân và tổ chức không có tư cách pháp nhân chủ yếu tham gia vào các hoạt động một cách tự nguyện hoặc theo nhiệm vụ nhất định. Khi tham gia vào hoạt động thương mại, pháp nhân và tổ chức không có tư cách pháp nhân đều có quyền hưởng quyền lợi và thực hiện nghĩa vụ trong các giao dịch.

Sự khác nhau:

Sự khác nhau cơ bản giữa pháp nhân và tổ chức không có tư cách pháp nhân khi tham gia quan hệ thương mại  là ở chế độ pháp lý.

Thứ nhất, Về điều kiện thực hiện các giao kết thương mại:

Pháp nhân khi thực hiện các hoạt động thương mại phải nhân danh chính pháp nhân, sử dụng tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó;

Tổ chức khi thực hiện các hoạt động không chịu sự ràng buộc nhất định của pháp luật về tài sản, tư cách tham gia.

Thứ hai, về chủ thể tham gia giao kết:

Pháp nhân khi tham gia các hoạt động thương mại phải có năng lực pháp luật dân sự theo quy định tại Điều 86 Bộ luật dân sự như sau:

" 1. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự phù hợp với mục đích hoạt động của mình.

2. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm pháp nhân được thành lập và chấm dứt từ thời điểm chấm dứt pháp nhân.

3. Người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo uỷ quyền của pháp nhân nhân danh pháp nhân trong quan hệ dân sự."

Tổ chức khi tham gia hoạt động thương mại thường chỉ yêu cầu năng lực dân sự của cá nhân đại diện tham gia thực hiện giao kết đó

Thứ ba, về việc chịu trách nhiệm:

Việc tách bạch tài sản của chủ sở hữu với pháp nhân, tổ chức không có tư cách pháp nhân thì không có sự tách bạch này. Vì vậy, tổ chức có tư cách pháp nhân chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn còn tổ chức không có tư cách pháp nhân thì phải chịu trách nhiệm vô hạn. Điển hình, nói tới các hoạt động thương mại, hoạt động kinh tế các pháp nhân tham gia chủ yếu là các doanh nghiệp. Theo quy địnhtrong Luật doanh nghiệp năm 2005 thì công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân còn doanh nghiệp tư nhân thì không. Có nghĩa khi doanh nghiệp phá sản thì chủ sở hữu chỉ chịu trách nhiệm giới hạn với phần vốn mà mình bỏ vào doanh nghiệp. Còn đối với doanh nghiệp tư nhân ngoài khoản tiền đầu tư kinh doanh thì chủ sở hữu còn phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản mình có. Doanh nghiệp tư nhân không phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp mà chỉ cần đóng thuế thu nhập cá nhân của chủ doanh nghiệp đó là một lợi thế nhưng đổi lại thi nhiều rủi ro hơn.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn, xin đảm bảo tất cả những thông tin tư vấn hoàn toàn đúng theo tinh thần pháp luật. Chúng tôi rất mong nhận được hồi âm của bạn về vấn đề này và luôn sẵn sàng trao đổi những thông tin cần thiết. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty tư vấn của chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê