a.Trường hợp chồng nước ngoài lấy vợ Việt Nam có được đầu tư vào bất động sản không?
b. Người sáng lập có cần phải có chứng chỉ bất động sản và bằng cấp không?
c. Vốn pháp lý là bao nhiêu?
Xin chân thành cám ơn!
Người gửi: LKM

Tư vấn thành lập công ty bất động sản

Tư vấn pháp luật doanh nghiệp, gọi: 1900.1940 

Trả lời:

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi tới Công ty Luật Minh khuê chúng tôi. Đối với một số thắc mắc của bạn, tôi xin trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý :

- Luật kinh doanh bất động sản số 63/2006/QH11;

Nghị định153/2007/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật Kinh doanh Bất động sản.

- Thông tư  số 13/2008/TT-BXD của Bộ xây dựng hướng dẫn nghị định 153/2007/NĐ-CP.

2. Nội dung tư vấn: 

Tổ chức, cá nhân trong nước được kinh doanh bất động sản trong phạm vi sau đây:
a) Đầu tư xây dựng nhà để bán, cho thuê, cho thuê mua;
c) Thuê nhà, công trình xây dựng để cho thuê lại;
d) Đầu tư cải tạo đất và đầu tư các công trình hạ tầng trên đất thuê để cho thuê đất đó có hạ tầng;
đ) Nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đầu tư công trình hạ tầng để chuyển nhượng, cho thuê; thuê quyền sử dụng đất đó có hạ tầng để cho thuê lại.

Tổ chức, cá nhân trong nước được kinh doanh dịch vụ bất động sản trong phạm vi sau đây:
a) Dịch vụ môi giới bất động sản;
b) Dịch vụ định giá bất động sản;
c) Dịch vụ sàn giao dịch bất động sản;
d) Dịch vụ tư vấn bất động sản;
đ) Dịch vụ đấu giá bất động sản;
e) Dịch vụ quảng cáo bất động sản;
g) Dịch vụ quản lý bất động sản.

Về vấn đề thứ nhất:  

Theo Điều 10 Luật kinh doanh bất động sản 2006, người nước ngoài muốn kinh doanh bất động sản tại Việt Nam phải thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác xã, phải có vốn pháp định và đăng kí kinh doanh theo quy định pháp luật.

Phạm vi hoạt động kinh doanh bất động sản và kinh doanh dịch vụ bất động sản của cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài gồm : 

a) Đầu tư tạo lập nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua;

b) Đầu tư cải tạo đất và đầu tư các công trình hạ tầng trên đất thuê để cho thuê đất đã có hạ tầng;

c) Kinh doanh dịch vụ bất động sản : môi giới, định giá, tư vấn, đấu giá, quảng cáo, quản lý và sàn giao dịch bất động sản.

Về vấn đề thứ hai:

Luật không bắt buộc người sáng lập cần có chứng chỉ hành nghề bất động sản nên doanh nghiệp kinh doanh bất động sản và dịch vụ bất động sản chỉ cần tuân theo điều kiện về chứng chỉ hành nghề được quy định taị Điều 8 Luật kinh doanh bất động sản 2006 : "Tổ chức, cá nhân khi kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản phải có ít nhất một người có chứng chỉ môi giới bất động sản; khi kinh doanh dịch vụ định giá bất động sản phải có ít nhất hai người có chứng chỉ định giá bất động sản; khi kinh doanh dịch vụ sàn giao dịch bất động sản phải có ít nhất hai người có chứng chỉ môi giới bất động sản, nếu có dịch vụ định giá bất động sản thì phải có ít nhất hai người có chứng chỉ định giá bất động sản."

Về vấn đề thứ ba:  Vốn pháp định: 6 tỷ đồng Việt Nam.

Trường hợp số vốn được góp bằng tiền thì phải có văn bản xác nhận của Ngân hàng Thương mại được phép hoạt động tại Việt Nam về số tiền ký quỹ của các thành viên sáng lập. Số tiền ký quỹ tối thiểu phải bằng số vốn góp bằng tiền của các thành viên sáng lập và chỉ được giải ngân sau khi doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;

Trường hợp số vốn góp bằng tài sản thì phải có chứng thư của tổ chức có chức năng định giá đang hoạt động tại Việt Nam về kết quả định giá tài sản được đưa vào góp vốn. Chứng thư phải còn hiệu lực tính đến ngày nộp hồ sơ tại cơ quan đăng ký kinh doanh.

Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp kinh doanh bất động sản phải duy trì mức vốn điều lệ không thấp hơn mức vốn pháp định.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê