Thành viên công ty hợp danh có được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên của công ty hợp danh khác hay không

 Như theo điều 172 Luật Doanh nghiệp 2014 thì công ty hợp danh có hai loại thành viên: Thành viên hợp danh và thành viên góp vốn.

 Thứ nhất ta xét điều lệ trên với thành viên hợp danh của công ty hợp danh thì quy định về thành viên công ty hợp danh tại điểm b khoản 1 Điều 172 Luật doanh nghiệp 2014 quy định:

Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty”.

Trách nhiệm tài sản của các thành viên hợp danh đối với các nghĩa vụ của công ty là trách nhiệm vô hạn và liên đới. Chủ nợ có quyền yêu cầu bất kỳ thành viên hợp danh nào thanh toán các khoản nợ của công ty đối với chủ nợ. Mặt khác, các thành viên hơp danh phải chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty bằng toàn bộ tài sản của mình bao gồm tài sản đầu tư vào kinh doanh và tài sản dân sự.
           Mặt khác Luật doanh nghiệp 2014 tại khoản 1 Điều 183 quy định về doanh nghiệp tư nhân:

1. Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình mọi hoạt động của doanhnghiệp”.


           Như vậy,  Chủ doanh nghiệp tư nhân cũng phải chịu trách nhiệm vô hạn về những nghĩa vụ của doanh nghiệp bằng toàn bộ tài sản của mình, theo khoản 3 Điều 183 Luật Doanh nghiệp 2014;

“Mỗi cá nhân chỉ được thành lập một danh nghiệp tư nhân. Chủ doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên công ty hợp danh”.

Bởi cả chủ doanh nghiệp tư nhân và thành viên công ty hợp danh đều phải chịu trách nhiệm vô hạn về các nghĩa vụ của công ty. Nếu đồng thời là thành viên công ty hợp danh và chủ doanh nghiệp tư nhân thì sẽ dẫn đến việc khó khăn khi người này phải đồng thời thực hiện nghĩa vụ ở công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân. Tuy nhiên, ngoại lệ của điều lệ này của công ty hợp danh quy định của pháp luật tại Khoản 1 Điều 175 Luật doanh nghiệp 2014 quy định như sau :

“Thành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác, trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại”.

Như vậy, Luật doanh nghiệp 2014 quy định rằng thành viên công ty hợp danh vẫn có thể là chủ doanh nghiệp tư nhân nếu được sự đồng ý của các thành viên hợp danh còn lại. Quy định này của pháp luật là hợp lý bởi tuy thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn nhưng các thành viên hợp danh của công ty hợp danh sẽ liên đới chịu trách nhiệm nên khó khăn khi thực hiện nghĩa vụ của thành viên hợp danh sẽ được giải quyết. Trách nhiệm của các thành viên hợp danh trong công ty hợp danh là liên đới nên khi được sự đồng ý của các thành viên hơp danh còn lại, tức là các thành viên của công ty hợp danh đó đã chấp nhận gánh vác những rủi ro về trách nhiệm của người được họ cho phép trở thành chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên công ty hợp danh khác. Hơn nữa công ty hợp danh là tiêu biểu cho loại hình công ty đối nhân, các thành viên hợp danh đã có mối quan hệ tin tưởng và thân mật từ trước, chỉ quan tâm đến nhân thân của thành viên mà không quan tâm đến số vốn họ góp, do đó nếu được sự đồng ý của các thành viên hợp danh còn lại thì thành viên hợp danh của công ty hợp danh vẫn có thể là chủ doanh nghiệp tư nhân. Trong trường hợp muốn trở thành thành viên của một công ty hợp danh khác thì có hai trường . Một là người đó muốn trở thành thành viên hợp danh của cả hai công ty hợp danh thì phải được sự đồng ý của các thành viên hợp danh còn lại của cả hai công ty hợp danh mà người đó muốn trở thành thành viên hợp danh. Vì trách nhiệm của người trở thành thành viên hợp danh của hai công ty hợp danh liên quan đến trách nhiệm của các thành viên còn lại của cả hai công ty hợp danh, nên phải được sự đồng ý của các thành viên hợp danh còn lại của cả hai công ty hợp danh thì một người mới có thể trở thành thành viên hợp danh của cả hai công ty đó được. Còn muốn trở thành thành viên góp vốn của một công ty hợp danh khác, thì không cần xét đến điều kiện trên.

           Thứ hai xét với thành viên của công ty hợp danh là thành viên góp vốn. Theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 172 Luật Doanh nghiệp 2014: “ Thành viên góp vốn chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty”. Thì điều lệ “ thành viên công ty hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân” hợp lý với khoản 3 Điều 183 luật doanh nghiệp 2014.  Còn với điều lệ: “Thành viên công ty hợp danh không được trở thành thành viên công ty hợp danh khác” là không hợp lý khi thành viên đó là thành viên góp vốn vì thành viên góp vốn không bị hạn chế bởi khoản 1 điều 175 luật doanh nghiệp 2014 như thành viên hợp danh.

           Như vậy, quy định thành viên của công ty hơp danh không được là chủ danh nghiệp tư nhân  là không phù hợp với khoản 1 Điều 175  luật doanh nghiệp 2014 nhưng lại phù hợp với khoản 3 Điều 183 luật doanh nghiệp 2014, đây là hai điều luật có nội dung không phù hợp với nhau một bên cho phép thành viên công ty hợp danh được làm chủ doanh nghiệp tư nhân khi được sự đồng ý của các thành viên hợp danh còn lại, còn bên kia lại quy định chủ doanh nghiệp tư nhân không được trở thành thành viên công ty hợp danh. Như vậy, nhìn chung theo quy định của pháp luật thì điều lệ “thành viên công ty hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân” là hợp lý. Còn thành viên công ty hợp danh không được trở thành thành viên của còn ty hợp danh khác là không phù hợp với khoản 1 Điều 175. Như vậy,  điều lệ của công ty cần theo hướng phù hợp với quy định của pháp luật hơn , cần đề cập đến sự thỏa thuận của các thành viên hợp danh trong công ty đó.