Sau khi nhận hàng công ty A không chấp nhận thanh toán cho công ty B theo giá đã thoả thuận trong hợp đồng, mà chỉ đồng ý thanh toán với giá 9.000.000đồng/tấn với lý do là cà phê không đạt chất lượng như đã thỏa thuận. Công ty B không đồng ý với quyết định trên và không nhận thanh toán. Ngày 7/1/2010 công ty B tiếp tục giao 50 tấn của đợt 2. Công ty A từ chối không nhận 50 tấn của đợt 2 với lý do công ty B giao hàng không báo trước, nên công ty không có kho chứa hàng. Ngay đêm đó mưa rất nhiều,do không lường trước được tình huống trên, nên công ty B không có phương tiện che chắn, hậu quả 30 tấn cà phê bị ướt và hư hỏng hoàn toàn. Trước các sự kiện trên, công ty B cho rằng công ty A đã cố ý gây thiệt hại cho mình, nên không tiếp tục giao hàng đợt 3. Vào ngày 15/1/2010 công ty B gửi công văn cho công ty A với các yêu cầu đối với công ty A như sau: - Công ty A phải thanh toán 50 tấn cà phê của đợt 1 theo giá đã thoả thuận trong hợp đồng. - Công ty A phải bồi thường thiệt hại đối với lô hàng 30 tấn của đợt 2 theo giá trị hợp đồng đã ký kết, do lỗi không nhận hàng theo thoả thuận trong hợp đồng, dẫn đến cà phê bị mưa ướt và hư hỏng hoàn toàn. Ngày 1/2/2010 công ty A có công văn trả lời như sau: - Bác bỏ yêu cầu của công ty B và giữ nguyên quan điểm của mình, chỉ chấp nhận thanh toán 50 tấn của đợt đầu với giá 9.000.000đồng /tấn. - Yêu cầu công ty B phải chịu phạt 8% giá trị hợp đồng và bồi thường thiệt hại 1.000.000.000 đồng vì vi phạm hợp đồng. Tôi muốn hỏi:

1. Quan hệ trên là quan hệ dân sự hay quan hệ thương mại?. Dùng luật thương mại hay luật dân sự để điều chỉnh quan hệ trên?. Vì sao?

2. Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ trên?

3. Bằng quy định của pháp luật thương mại hãy cho biết yêu cầu của các bên đúng hay sai? Giải thích?

4. Cách giải quyết cụ thể phù hợp trong quan hệ hợp đồng trên ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: B.K

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật doanh nghiệp của Công ty Luật Minh Khuê.

Trách nhiệm các bên khi vi phạm hợp đồng thương mại ?

 

Luật sư tư vấn luật doanh nghiệp gọi số: 1900 6162

Trả lời:

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới bạn lời chào trân trọng và cảm ơn bạn đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Căn cứ pháp luật:

Bộ luật dân sự 2005        

Luật thương mại 2005    

Nội dung trả lời:

Điều 37. Luật thương mại quy định như sau:

Điều 37.Thời hạn giao hàng

1. Bên bán phải giao hàng vào đúng thời điểm giao hàng đã thoả thuận trong hợp đồng.

2. Trường hợp chỉ có thỏa thuận về thời hạn giao hàng mà không xác định thời điểm giao hàng cụ thể thì bên bán có quyền giao hàng vào bất kỳ thời điểm nào trong thời hạn đó và phải thông báo trước cho bên mua.

3. Trường hợp không có thỏa thuận về thời hạn giao hàng thì bên bán phải giao hàng trong một thời hạn hợp lý sau khi giao kết hợp đồng.

Điều 39. Luật thương mại quy định như sau:

Điều 39. Hàng hoá không phù hợp với hợp đồng

1. Trường hợp hợp đồng không có quy định cụ thể thì hàng hoá được coi là không phù hợp với hợp đồng khi hàng hoá đó thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Không phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của các hàng hoá cùng chủng loại;

b) Không phù hợp với bất kỳ mục đích cụ thể nào mà bên mua đã cho bên bán biết hoặc bên bán phải biết vào thời điểm giao kết hợp đồng;

c) Không bảo đảm chất lượng như chất lượng của mẫu hàng hoá mà bên bán đã giao cho bên mua;

d) Không được bảo quản, đóng gói theo cách thức thông thường đối với loại hàng hoá đó hoặc không theo cách thức thích hợp để bảo quản hàng hoá trong trường hợp không có cách thức bảo quản thông thường.

2. Bên mua có quyền từ chối nhận hàng nếu hàng hoá không phù hợp với hợp đồng theo quy định tại khoản 1 Điều này.

Điều 40 Luật thương mại quy định như sau:

Điều 40. Trách nhiệm đối với hàng hoá không phù hợp với hợp đồng

Trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác, trách nhiệm đối với hàng hóa không phù hợp với hợp đồng được quy định như sau:

1. Bên bán không chịu trách nhiệm về bất kỳ khiếm khuyết nào của hàng hoá nếu vào thời điểm giao kết hợp đồng bên mua đã biết hoặc phải biết về những khiếm khuyết đó;

2. Trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, trong thời hạn khiếu nại theo quy định của Luật này, bên bán phải chịu trách nhiệm về bất kỳ khiếm khuyết nào của hàng hoá đã có trước thời điểm chuyển rủi ro cho bên mua, kể cả trường hợp khiếm khuyết đó được phát hiện sau thời điểm chuyển rủi ro;

3. Bên bán phải chịu trách nhiệm về khiếm khuyết của hàng hóa phát sinh sau thời điểm chuyển rủi ro nếu khiếm khuyết đó do bên bán vi phạm hợp đồng.

Điều 41. Luật thương mại quy định như sau:

Điều 41. Khắc phục trong trường hợp giao thiếu hàng, giao hàng không phù hợp với hợp đồng

1. Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, nếu hợp đồng chỉ quy định thời hạn giao hàng và không xác định thời điểm giao hàng cụ thể mà bên bán giao hàng trước khi hết thời hạn giao hàng và giao thiếu hàng hoặc giao hàng không phù hợp với hợp đồng thì bên bán vẫn có thể giao phần hàng còn thiếu hoặc thay thế hàng hoá cho phù hợp với hợp đồng hoặc khắc phục sự không phù hợp của hàng hoá trong thời hạn còn lại.

2. Khi bên bán thực hiện việc khắc phục quy định tại khoản 1 Điều này mà gây bất lợi hoặc làm phát sinh chi phí bất hợp lý cho bên mua thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán khắc phục bất lợi hoặc chịu chi phí đó.

Điều 300. Luật thương mại 2005 quy định như sau:

Điều 300. Phạt vi phạm

Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này.

Điều 301. Luật thương mại 2005 quy định như sau:

Điều 301. Mức phạt vi phạm

Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 của Luật này.

Điều 422. Bộ luật dân sự quy định như sau:

Điều 422. Thực hiện hợp đồng có thoả thuận phạt vi phạm  

1. Phạt vi phạm là sự thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.

2. Mức phạt vi phạm do các bên thoả thuận.

3. Các bên có thể thoả thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải nộp phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại; nếu không có thoả thuận trước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại.

Trong trường hợp các bên không có thoả thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm.

Điều 430. Bộ luật dân sự quy định như sau:

Điều 430. Chất lượng của vật mua bán  

1. Chất lượng của vật mua bán do các bên thoả thuận.

2. Trong trường hợp chất lượng của vật đã được công bố hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định thì chất lượng của vật được xác định theo các tiêu chuẩn đã công bố hoặc theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3. Khi các bên không có thoả thuận và pháp luật không có quy định về chất lượng thì chất lượng của vật mua bán được xác định theo mục đích sử dụng và chất lượng trung bình của vật cùng loại.

Điều 444. Bộ luật dân sự quy định như sau:

 Điều 444. Bảo đảm chất lượng vật mua bán

1. Bên bán phải bảo đảm giá trị sử dụng hoặc các đặc tính của vật mua bán; nếu sau khi mua mà bên mua phát hiện khuyết tật làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị sử dụng của vật đã mua thì phải báo ngay khi phát hiện ra khuyết tật và có quyền yêu cầu bên bán sửa chữa, đổi vật có khuyết tật, giảm giá và bồi thường thiệt hại, nếu không có thoả thuận khác.

Như vậy, trong trường hợp của bạn giải quyết như sau:

1, Quan hệ trên là quan hệ pháp luật thương mại. Chịu sự điều chỉnh của Luật thương mại 2005 và Bộ luật dân sự 2005. Vì quan hệ Pháp luật Dân sự theo nghĩa rộng bap gồm cả lĩnh lực Kinh doanh thương mại.

2, Quyền và nghĩa vụ của bên A:

Bên A có quyền: Nhận đầy đủ 150 tấn cà phê hạt theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng trong 10 ngày thỏa thuận.

Bên A có nghĩa vụ: Thanh toán đủ tiền hàng sau mỗi đợt nhận hàng.

Quyền và nghĩa vụ của bên B

Bên B có quyền: Nhận thanh toán đầy đủ sau mỗi đợt giao hàng.

Bên B có nghĩa vụ: Giao hàng theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng với bên A , giao đầy đủ 3 đợt hàng trong thời hạn 10 ngày, thông báo trước khi giao hàng.

3, Yêu cầu của hai bên điều chỉnh theo Luật thương mại

Yêu cầu của B đối với bên A:

Yêu cầu A thanh toán hàng đợt một theo đúng giá thỏa thuận ban đầu là không hợp lý theo quy định tại Điều 39, Điều 40, Điều 41 Luật thương mại 2005. Bên B phải chịu trách nhiệm về việc hàng hóa không đúng với thỏa thuận như đã giao kết ban đầu.Yêu cầu bên A bồi thường thiệt hại 30 tấn cà phê hạt bị hư hỏng là không đúng với quy định pháp luật thương mại. Theo khoản 2 Điều 37 Luật thương mại 2005 thì bên A không có lỗi dẫn đến thiệt hại đó, lỗi là của bên B. 

Yêu cầu của A đối với bên B:

Yêu cầu chỉ trả mức giá 9.000.000đ/ tấn cà phê hạt là đúng với pháp luật thương mại quy định tại Điều 40 Luật thương mại 2005. Yêu cầu B chịu phạt 8% hợp đồng là 1.000.000.000đ quy định tại Điều 300,301 Luật thương mại 2005. Như vậy nếu có thỏa thuận điều khoản phạt vi phạm trong hợp đồng thì yêu cầu phạt vi phạm của A mới được chấp nhận.

4, Cách giải quyết trường hợp trên

Tiền thanh toán hàng nhận đợt 1 ngày 5/1/2010: theo quy định tại Điều 430 và Khoản 1 Điều 444 Bộ luật dân sự thì bên B phải giảm giá cho bên A về việc hàng hóa không đúng chất lượng.

Thiệt hại 30 tấn cà phê hạt bị hư hỏng: Bên B phải chịu thiệt hại về 30 tấn cà phê hạt đó theo khoản 2 Điều 37 Luật thương mại 2005.

Nếu như trong hợp đồng mua bán giữa hai bên có điều khoản quy định phạt vi phạm và nêu rõ mức phạt không trái với điều 301 Luật thương mại 2005 thì phạt theo thỏa thuận. Thỏa thuận không nêu rõ mức phạt thì phạt B vi phạm hợp đồng theo đúng yêu cầu của A. Nếu hợp đồng mua bán không thỏa thuận điều khoản phạt vi phạm hợp đồng thì sẽ không chấp nhận yêu cầu phạt vi phạm hợ đồng của A đối với B.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật doanh nghiệp qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng !

Bộ phận tư vấn luật dân sự.