Trong thời hạn 1 năm B phải trả cho A số tiền vay đó kể cả lãi, nếu không có tiền trả thì A sẽ lấy nợ bằng 20% phần vốn góp của B trong công ti và  không lấy lãi.

A để B làm giám đốc công ti, mình là phó giám đốc. 2 bên thống nhất ghi trong điề lệ công ti: các vấn đề thay đổi hình thức công ti, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giair thể, mở rộng phạm vi kinh doanh, kết nạp thành viên mới, tăng, giảm, thay đổi cơ cấu vốn phải theo nguyên tắc nhất trí.

Hơn 1 năm kể từ ngày thành lập công ty, sau khi thúc nợ nhiều lần, A đề nghị B chuyển 20% vốn góp của B cho A. B thấy công ti làm ăn phát đạt nên không nhất trí và hẹn chỉ trả nợ bằng các khoản lãi mà B nhận được từ công ti. Gia đình B không có ai, B không có tài sản gì đáng kể, sống nhờ vào công ti. A đến gặp luật sư.

Cách thức lấy nợ như thỏa thuận của A và B có thể thực hiện không? Lập luận.

2.     A và B muốn thành lập 1 công ti cổ phần chung chỉ có 2 người. vướng phải khó khăn lien quan tới các quy định của luật doanh nghiệp 2005, 2 người cam kết trả cho C mỗi tháng 1 số cổ tức nhất định để đổi lấy việc C đứng tên như cổ đông thứ 3 cùng thành lập công ti< nhưng="" thức="" tế="" không="" góp="" vốn="">. công ti được thành lập. C nhận số cổ tức như cam kết được 2 năm thì A và B cương quyết không trả nữa. C khới kiện ra tòa án đòi được chia cổ tức và các quyền lợi khác theo luật doanh nghiệp 2005.

Tòa án sẽ giải quyết như thế nào? Tại sao? Nêu rõ căn cứ pháp lí.

3.     Công ti X được thành lập có 3 thành viên hợp danh là A, B, C. ngoài ra có D là thành viên góp vốn. công ti hoạt động được 1 thời gian thì A  chết để lại phần vốn góp trong công I cho 2 người thừa kế là E và F. E rút vốn khỏi công ti. F bán phần vốn góp được hưởng cho G. các thành viên của công ti nhất trí cho G trở thành thành viên hợp danh của công ti do mua phần vốn góp của F. Đồng thời nhất trí cho D trở thành thành viên hợp danh vào cùng thời điểm. hoạt động tiếp được hơn 1 năm sau. Công ti bị phá sản. các chủ nợ đòi hỏi E, F, G, D cũng phải chịu trách nhiệm lien đới vô hạn đối với các khoản nợ của công ti cùng với B và C.

Đòi hỏi của các chủ nợ có hợp lí không? Tại sao? Căn cứ pháp luật.

4.     Doanh nghiệp tư nhân X của A làm ăn có hiệu quả nhưng bị phạt do vi phạm các quy định về môi trường gây bệnh cho 3 người nông dân quanh vùng đang được chữa bệnh tại bệnh viện. A bán doanh nghiệp X cho B. sau khi bán A và B tới bệnh viện thăm các bện nhân. B mang tiền tới bồi thường cho các bệnh nhan này và cam kết sẽ bồi thường cho những bệnh nhân do X vi phạm quy định môi trường gây ra. 3 bệnh nhân vui vẻ nhận tiền và chấp nhận lời cam kết của B. 2 tháng sau, hơn 10 nạn nhân nữa quanh vùng phát bệnh do X gây ra. Hỏi kinh nghiện của 3 bệnh nhân trước, tới B đòi B bồi thường. một số nạn nhân khác lại đòi A bồi thường. cũng trong thời gian này 2 trong 3 bệnh nhân trước chết do bện không thể chữa khỏi. gia đình họ đến đòi bồi thường cả A và B. trước hoàn cảnh đó, B yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng mua bán danh nghiệp X vô hiệu với lí do A không thông báo đầy đủ các khoản nợ cho cơ quan đăng kí kinh doanh, và không chấp nhận bồi thường theo yêu cầu của các nạn nhân. Biết rằng trong hợp đồng mua bán doanh nghiệp X, các bên thỏa thuận bên mua chịu trách nhiệm về các khoản nợ phát sinh từ hoạt động của doanh nghiệp và đã cùng nhau kiểm tra tất cả các sổ sách chứng từ liên quan.

Hợp đồng mua bán có vô hiệu hay không? Việc bồi thường phải giải quyết như thế  nào? Tại sao?

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê

Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Kính thư

Người gửi: NT Ngan

>> Luật sư vấn pháp luật cho doanh nghiệp trực tuyến gọi số: 1900.1940

Tư vấn luật doanh nghiệp - Ảnh minh họa

Trả lời:

Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi đến Công ty. Về vấn đề của bạn, công ty xin giải đáp như sau:

Tình huống 1:

Căn cứ pháp lý: Luật Dân sự 2005

 Việc A cho B vay 20% trong số 50% vốn góp của B vào công ty, là việc xảy ra trước khi cả 2 bên cam kết mỗi thành viên góp 50% vốn điều lệ và trong điều lệ của công ty thì số vốn cam kết của A và B bằng nhau và bằng 50% là hoàn toàn hợp pháp. Bởi vì để có thể cho B vay được 20% vốn điều lệ để B có thể tăng vốn góp từ 30% lên 50% thì trên thực tế A đã phải có quyền sử dụng, chiếm hữu và định đoạt 70% vốn góp nhưng trong tình huống thì A đã cho B vay trước khi cả 2 cam kết số vốn góp nên việc A cho B 20% trong số 50% vốn góp của B và công ty bản chất là A cho B vay số tiền bằng với 20% vốn điều lệ góp vào công ty.

Theo quy định tại Điều 471: Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

Xét tình huống, A và B đều đã thỏa thuận trong thời hạn 1 năm B phải trả cho A số tiền vay đó kể cả lãi, nếu không có tiền trả thì A sẽ lấy nợ bằng 20% phần vốn góp của B trong công ty và không lấy lãi.

Thỏa thuận lấy nợ này giữa A và B đã vi phạm về bản chất của hợp đồng vay tài sản: Theo quy định tại Điều 471: “bên vay phải hoàn trả cho bên vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng”. Tài sản mà A cho B vay được xác định là tiền, thì B phải có nghĩa vụ hoàn trả cho A bằng tiền. Nếu quá hạn mà B không thể trả được thì theo quy định tại Khoản 5 Điều 474 về Nghĩa vụ trả nợ của bên vay: “Trong trường hợp vay mà có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ” chứ không thể thỏa thuận là nếu B không trả đúng thời hạn thì A sẽ lấy 20% phần vốn góp của B và không lấy lãi. Như vậy thỏa thuận : “Trong thời hạn 1 năm nếu không có tiền trả thì A sẽ lấy nợ bằng 20% vốn góp của B trong công ty và không lấy lãi” là không có hiệu lực ngay sau đó. Vì thế B có nghĩa vụ hoàn trả tiền bao gồm lãi đúng hạn.

Sau 1 năm B vẫn chưa hoàn trả được tiền cho A thì B đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền của bên vay theo quy định tài Điều 474 thì B phải trả cả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

 

Tình huống 2:

Cơ sở pháp lý: Luật Doanh nghiệp 2005.

                       Bộ Luật tố tụng dân sự 2011.

Có thể hiểu khó khăn mà A và B gặp phải khi muốn thành lập 1 công ty cổ phần là thiếu cổ đông. Để có thể phù hợp với quy định của pháp luật về việc thành lập công ty cổ phần theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 77 BLDS: “Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa”. Chính vì việc này nên A và B đã làm 1 cam kết với C trả cho C một số cổ tức nhất định và C đứng tên như cổ đông thứ ba thành lập công ty nhưng trên thực tế C không góp góp vốn. Vì thế công ty đã được thành lập.

Thẩm quyền giải quyết: Thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Căn cứ theo Khoản 3 Điều 29 BLTTDS thì tranh chấp giữa A, B và C là tranh chấp giữa các thanh viên trong công ty với nhau về việc thành lập của công ty.

Căn cứ theo Điểm a Khoản 1 Điều 34 BLTTDS thì tranh chấp giữa A, B và C thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Cách giải quyết:

Giữa A, B và C đã có sự cam kết là A và B sẽ trả cho C một số cổ tức nhất định đồng nghĩa với việc C sẽ là 1 cổ đông của công ty nhưng thực ra không có vốn góp, như vậy cổ phần của C trên giấy đăng ký kinh doanh được hiểu là do A hoặc B hoặc cả hai đã chuyển sang. Nếu A và B chứng minh được cam kết này có hiệu lực và trên thực tế đúng là C không góp vốn mà vốn của C góp trên danh nghĩa là do A, B chuyển sang thì C sẽ hoàn toàn mất tư cách là cổ đông của công ty cổ phần. Căn cứ theo quy định tại Khoản 11 Điều 4 LDN: “Cổ đông là người sở hữu ít nhất một cổ phần đã phát hành của công ty cổ phần”. Như vậy  C sẽ mất quyền là cổ đông của công ty và công ty hiện chỉ còn 2 cổ đông là A và B. Như vậy công ty rơi vào trường hợp không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu theo quy định của LDN. Trong thời hạn sáu tháng kể từ khi C mất tư cách là cổ đông thì A và B phải tìm được cổ đông thay thế C, nếu trong sáu tháng liên tục không tìm được cổ đông thì công ty sẽ bị giải thể theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 157 LDN.

 

Tình huống 3:

Cơ sở pháp lý: Luật Doanh nghiệp 2005.

Căn cứ theo Điểm h Khoản 1 Điều 134 quy định về quyền và nghĩa vụ của thành viên hợp danh: “Trường hợp thành viên hợp danh chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì người thừa kế của thành viên được hưởng phần giá trị tài sản tại công ty sau khi đã trừ đi phần nợ thuộc trách nhiệm của thành viên đó. Người thừa kế có thể trở thành thành viên hợp danh nếu được Hội đồng thành viên chấp thuận”.

Như vậy tư cách thành viên hợp danh của A bị chấm dứt theo quy định tại Điểm b Khoản Điều 138 và E, F hoàn toàn có quyền được thừa kế số vốn góp do A để lại.

Hiện tại chưa có quy định pháp luật nào quy định về việc người thừa kế số vốn góp của thành viên hợp danh bị chết chắc chắn trở thành thành viên hợp danh hay thành viên góp vốn của công ty.

Việc E đã rút vốn góp từ công ty chỉ hợp pháp khi E chứng minh được mình là thành viên hợp danh của công ty và đã được các thành viên chấp thuận. A phải thực hiện thủ tục rút vốn khỏi công ty đúng theo quy định tại Khoản 2 Điều 138 và A chỉ được rút vốn vào thời điểm kết thúc năm tài chính và báo cáo tài chính của năm đó được thông qua. Lúc này A mới được chấm dứt tư cách thành viên hợp danh. Nhưng chỉ hơn 1 năm sau công ty đã bị phá sản, các chủ nợ đến đòi E phải chịu trách nhiệm liên đới, đòi hỏi này của chủ nợ là hoàn toàn hợp pháp bởi vì E tự nguyện rút vốn khỏi công ty vì thế trong hai năm kể từ ngày chấm dứt tư cách thành viên hợp danh thì E vẫn phải chịu trcahs nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ của công ty phát sinh trước ngày chấm dứt tư cách thành viên theo quy định tại Khoản 5 Điều 138.

Đối với F, nếu như F chứng minh được mình đã được hội đồng thành viên chấp nhận với tư cách là thành viên hợp danh thì F mới có thể chuyển số vốn góp nhận được từ việc thừa kế của A cho G chỉ khi được các thành viên hợp danh còn lại là B và C chấp thuận.

Xét trường hợp trong Điều lệ công ty có quy định nếu thành viên hợp danh đã chuyển nhượng toàn bộ vốn góp của mình cho một thành viên khác thì thành viên hợp danh đó bị mất tư cách thành viên hợp danh. Đối với trường hợp này thì G không còn tư cách thành viên hợp danh của công ty và G vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ vì từ thời điểm G bị mất tư cách thành viên hợp danh thì công ty hoạt động chưa được 2 năm và số nợ này phát sinh trước khi A bị mất tư cahs thành viên hợp danh theo quy định tại Khoản 3 Điều 138.

Xét trường hợp trong Điều lệ công ty không có quy định nếu thành viên hợp danh đã chuyển nhượng toàn bộ vốn góp của mình cho thành viên khác sẽ bị mất tư cách thành viên hợp danh. Đối với trường hợp này thì G vẫn là thành viên hợp danh của công ty vì thế có nghĩa vụ liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty theo quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 134

Vì thế việc các chủ nợ đòi G phải liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ là hoàn toàn hợp pháp.

Đối với G trong tình huống có nêu rõ, G đã được hội đồng thành viên chấp nhận là thành viên hợp danh với số vốn góp được F chuyển nhượng cho. Căn cứ theo Điểm đ Khoản 2 Điều 134 thì F có trách nhiệm liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản  nợ của công ty. Vì thế các chủ nợ đòi G là đúng theo quy định của pháp luật.

Đối với D trong tình huống cũng đã nêu rõ, D đã được hội đồng thành viên chấp nhận cho trở thành thành viên hợp danh . Căn cứ theo Điểm đ Khoản 2 Điều 134 thì D phải có trách nhiệm liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của công ty.Vì vậy các chủ nợ đòi G là hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật.

Tóm lại: Đòi hỏi của các chủ nợ là E, F, G, D cũng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với các khoản nợ của công ty cùng B với C là hoàn toàn đúng pháp luật.

Tình huống 4:

Căn cứ pháp lý: Bộ Luật dân sự 2005.

Hợp đồng giữa A và B được xác định là hợp đồng mua bán

Đối tượng: Doanh nghiệp X.

Căn cứ theo Điều 410 quy định về Hợp đồng dân sự vô hiệu thì trong trường hợp này hợp đồng mua bán giữa A và B hoàn toàn không vô hiệu.

Vì: Lý dó mà B đưa ra để yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng mua bán giữa A và B là vô hiệu không thuộc vào một trong những trường hợp khiến cho hợp đồng bị vô hiệu. Mặt khác, trên thực tế khi làm hợp đồng mua bán doanh nghiệp X thì A và B đã thỏa thuận bên mua (B) chịu trách nhiệm về các khoản nợ phát sinh từ hoạt động của doanh nghiệp và đã cùng nhau kiểm tra tất cả các sổ sách chứng từ liên quan. Như vậy B hoàn toàn biết được các khoản nợ của công ty. Do đó, yêu cầu của B sẽ không được tòa án chấp nhận và hợp đồng giữa A và B vẫn có hiệu lực.

Việc bồi thường do B chi trả vì công ty lúc này là công ty do B là đại điện và chịu trách nhiệm pháp lý trước.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn, xin đảm bảo tất cả những thông tin tư vấn hoàn toàn đúng theo tinh thần pháp luật. Chúng tôi rất mong nhận được hồi âm của bạn về vấn đề này và luôn sẵn sàng trao đổi những thông tin cần thiết. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty tư vấn của chúng tôi.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ