Tôi và anh A có quan hệ thân thiết 3 năm rồi, nhưng bẵng đi 1 thời gian, anh A thành lập công ty riêng và gọi cho tôi, nói muốn bán cổ phần, tôi thì cũng tin tưởng, nên nghe anh A nói là công ty đang làm ăn thuận lợi và phát triển tốt, và anh A có nói là sẽ mở thêm 1 lĩnh vực cho mảng tôi đang làm. Sau đó, tôi đi gom tiền và mua số cổ phần đó với trị giá là 40 triệu, anh ta có đánh máy cho tôi 1 tờ giấy bàn giao cổ phần, nhưng không có mang ra cơ quan có thẩm quyền để xác nhận, nghĩa là tôi vẫn không hề có tên trong giấy phép kinh doanh, việc mua bán chỉ có xác nhận của tôi và anh ta. Sau khi đưa tiền 2 ngày, tôi đến công ty và không hề thấy anh A đả động gì tới chuyện công ty, và giao nhiệm vụ cho tôi, nên tôi gọi điện và gặp anh A, Sau đó anh A nói là nếu không làm được thì anh A sẽ trả lại tiền cho tôi, nhưng sau đó và tới bây giờ là 8 tháng rồi tôi vẫn không nhận được 1 đồng nào tiền nợ anh A trả, khất nần hết lần này tới lần khác, không trả, và giờ tắt máy đã nửa tháng, tôi không liên lạc được cho anh A, tới giờ tôi tới nhà anh A đòi tiền, thì anh A trả lời là : "Trên giấy tờ anh A không nợ nần gì tiền tôi".

Và có ý định không trả. các tin nhắn khất nần của anh A và vợ anh A tôi vẫn còn đầy đủ giờ tôi đang thắc mắc có thể tố cáo anh ta lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được không ? vì giấy tờ của công ty, anh ta chỉ làm đơn thuần tôi và anh ta viết, không hề được pháp luật công nhận ? giờ công ty đang phá sản và anh ta không có ý định trả nợ cho tôi ?

Người hỏi: H.T. Hiếu

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật doanh nghiệp của Công ty luật Minh Khuê,

Luật sư tư vấn về chuyển nhượng cổ phần trực tuyến

Luật sư tư vấn về chuyển nhượng cổ phần trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cơ sở pháp lý:

Luật doanh nghiệp 2005

Luật doanh nghiệp năm 2014

Bộ luật hình sự 1999

Nội dung trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chuyên mục tư vấn pháp luật của chúng tôi. Câu hỏi của bạn, Luật Minh Khuê xin trả lời như sau:

1. Về việc anh A không xin phép cơ quan nhà nước khi viết giấy bán cổ phần cho bạn

Theo quy định tại Điều 86 khoản 4  luật doanh nghiệp 2005 về sổ đăng ký cổ đông thì:

4. Cổ đông sở hữu từ 5% tổng số cổ phần trở lên phải được đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày có được tỷ lệ sở hữu đó.

Như vậy, theo quy định trên nếu như số cổ phần bạn mua chiếm 5% tổng số cổ phần trở lên trong công ty của anh A thì anh A mới phải có trách nhiệm đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền về việc sở hữu cổ phần của bạn. Còn nếu như số lượng cổ phần mà bạn  mua không đạt đến mức đó thì anh A chỉ ghi giấy bàn giao cổ phần là đúng. Tuy nhiên, việc bạn mua cổ phần của công ty sẽ phải được ghi vào sổ đăng ký cổ đông và cuốn sổ này sẽ được  lưu giữ tại trụ sở chính của công ty hoặc Trung tâm đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán. Bạn  có quyền kiểm tra, tra cứu hoặc trích lục, sao chép nội dung sổ đăng ký cổ đông trong giờ làm việc của công ty hoặc Trung tâm đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán.(theo khoản 3 điều 86 luật doanh nghiệp 2005)

Một điều cần lưu ý ở đây là việc chào bán cổ phần cho bạn (chào bán ra công chúng) của anh A đã hợp pháp hay chưa vì công ty cổ phần chỉ được quyền chào bán cổ phần ra công chúng khi được sự chấp thuận của đa số các thành viên Hội đồng quản trị công ty theo điều 87 luật doanh nghiệp 2005. Nếu như việc anh A chào bán cổ phần cho bạn tuân thủ đúng điều kiện trên thì trách nhiệm khoản nợ của bạn sẽ liên quan đến công ty. Còn nếu như việc chào bán cổ phần cho bạn là chủ ý riêng của anh A thì việc chịu trách nhiệm với khoản nợ chỉ thuộc về một mình anh A chứ không hề liên quan đến công ty

 


2. Việc khởi kiện đòi tiền theo hướng luật hình sự:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 140 bộ luật hình sự 1999 thì trường hợp này, bạn có thể khởi kiện anh A về hành vi chiếm đoạt tài sản của bạn và theo quy định trên anh A sẽ chịu mức hình phạt  cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

Điều 140 luật hình sự năm 1999 quy định:

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây  chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian  dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT