2. Điều khoản về bảo mật thông tin mời thầu được quy định định ở đâu ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: M.P

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật doanh nghiệp của Công ty Luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn pháp luật doanh nghiệp gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào chị, cảm ơn chị đã gửi thắc mắc của mình đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin chị cung cấp xin được tư  vấn cho chị như sau:

Cơ sở pháp lý

-Luật đấu thầu 2013

-Nghị định 63/2014/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành mốt số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu

-Bộ luật dân sự 2005

Nội dung phân tích

1. Thư bảo lãnh dự thầu được ký trước ngày đơn vị dự thầu mua hồ sơ mời thầu có hợp lệ không?

Thư bảo lãnh là văn bản thông báo của Ngân hàng cho bên mời thầu để bảo đảm trách nhiệm dự thầu của nhà thầu, nhà đầu tư trong thời gian xác định theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu.

Nội dung của hồ sơ mời thầu được giữ bí mật cho đến thời điểm phát hành theo quy định (Khoản 7 điều 89 luật đấu thầu 2013), sau thời điểm phát hành này, các bên dự thầu được phép mua hồ sơ mời thầu.

Thư bảo lãnh là một trong số những giấy tờ chứng minh về điều kiện dự thầu, được ký kết theo yêu cầu của bên dự thầu dựa trên thỏa thuận bảo lãnh với bên ngân hàng. Việc ký kết này không trái quy định của pháp luật. Nếu thư bảo lãnh được ký kết trước thời điểm mua hồ sơ mời thầu, đồng thời trước thời điểm phát hành, tức là khi hồ sơ mời thầu còn trong giai đoạn phải được giữ bí mật, mà thư bảo lãnh có ghi nhận một cách chính xác những thông tin bí mật trong hồ sơ mời thầu, thì thư bảo lãnh này có dấu hiệu chứng minh thông tin trong hồ sơ mời thầu bọ rò rỉ ra ngoài, thư bảo lãnh này không hợp lệ. Ngược lại, thư bảo lãnh không có dấu hiệu vi phạm tính bảo mật của hồ sơ mời thầu thì thư bảo lãnh hoàn toàn hợp lệ, kể cả trong trường hợp được ký trước khi mua hồ sơ mời thầu (bảo lãnh nghĩa vụ tương lai).

Điểm d khoản 2 điều 18 Nghị định 63/2014/NĐ-CP: Đánh giá tính hợp lệ của hồ sơ dự thầu về thư bảo lãnh dự thầu: Có bảo đảm dự thầu với giá trị và thời hạn hiệu lực đáp ứng yêu cầu của hồ sơ mời thầu. Đối với trường hợp quy định bảo đảm dự thầu theo hình thức nộp thư bảo lãnh thì thư bảo lãnh phải được đại diện hợp pháp của tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập theo pháp luật Việt Nam ký tên với giá trị và thời hạn hiệu lực, đơn vị thụ hưởng theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu;

Như vậy có 4 yếu tố ảnh hưởng đến tính hợp lệ của thư bảo lãnh:

+ Giá trị bảo lãnh;

+ Thời hạn hiệu lực;

+ Đơn vị thụ hưởng;

+ Người ký tên trên thư bảo lãnh.

Theo quy định trên thì thời điểm ký thư bảo lãnh dự thầu không ảnh hưởng đến tính hợp lệ của hồ sơ dự thầu.

Mặt khác, xem xét đến tính hiệu lực của hợp đồng bảo lãnh, là quan hệ được bảo đảm được nêu rõ trong thư bảo lãnh dự thầu, có thể thấy: Căn cứ theo khoản 2 Điều 319 bộ luật dân sự 2005:“Các bên được thoả thuận về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự để bảo đảm thực hiện các loại nghĩa vụ, kể cả nghĩa vụ hiện tại, nghĩa vụ trong tương lai hoặc nghĩa vụ có điều kiện”.

Trách nhiệm dự thầu chính là nghĩa vụ tương lai, việc hai bên ký kết hợp đồng bảo lãnh để bảo đảm cho nghĩa vụ trong tương lai thuộc phạm vi được bảo đảm theo quy định của bộ luật dân sự. Nếu thư bảo lãnh được ký trước thời điểm mua hồ sơ mời thầu - thời điểm bên dự thầu nhận được đề nghị giao kết hợp đồng thầu, trong đó có yêu cầu điều kiện dự thầu là phải có thư bảo lãnh, có nghĩa là nghĩa vụ dự thầu trong tương lai đã được đảm bảo ngay kể cả khi hoạt động dự thầu chưa được đề nghị, cũng không hề ảnh hưởng đến tính hợp lệ, cũng như là hiệu lực thỏa thuận bảo lãnh, cũng như thư bảo lãnh dự thầu.

Trong trường hợp thư bảo lãnh có những dấu hiệu vi phạm về tính bảo mật của hồ sơ mời thầu: tiết lộ hoặc tiếp nhận tài liệu, thông tin về hồ sơ mời thầu trước thời điểm phát hành thì xử lý vi phạm theo quy định.

Các nội dung trong thư bảo lãnh, bên dự thầu đều có thể tìm hiểu trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, vì vậy nên những thông tin trên thư bảo lãnh ít khi là những thông tin mật cần được bảo mật theo quy định tại điều 89 Luật đấu thầu 2013.

2. Điều khoản về bảo mật thông tin mời thầu

Căn cứ khoản 7 Điều 89 Luật đấu thầu 2013: Các hành vi bị cấm trong đấu thầu

"Tiết lộ, tiếp nhận những tài liệu, thông tin sau đây về quá trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 7 và điểm e khoản 8 Điều 73, khoản 12 Điều 74, điểm i khoản 1 Điều 75, khoản 7 Điều 76, khoản 7 Điều 78, điểm d khoản 2 và điểm d khoản 4 Điều 92 của Luật này:

b) Nội dung hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển, hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất, sổ tay ghi chép, biên bản cuộc họp xét thầu, các ý kiến nhận xét, đánh giá đối với từng hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển, hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất trước khi công khai danh sách ngắn, kết quả lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư;

đ) Kết quả lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trước khi được công khai theo quy định;

Như vậy, hồ sơ dự thầu được bảo mật trước khi công khai danh sách ngắn, kết quả lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư. Trong trường hợp tiết lộ, tiếp nhận những tài liệu, thông tin của hồ sơ dự thầu trước khi được công khai thì được xác định là hành vi vi phạm về đấu thầu và bị xử lý theo điều 90 Luật đấu thầu 2013. 

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về thắc mắc của chị, cảm ơn chị đã tin tưởng Công ty Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ